Bản án 36/2017/DS-ST ngày 28/07/2017 về tranh chấp nợ hụi

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH THƯỢNG, TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 36/2017/DS-ST NGÀY 28/07/2017 VỀ TRANH CHẤP NỢ HỤI

Trong ngày 28 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 30/2017/TLST-DS, ngày 07 tháng 4 năm 2017, về “Tranh chấp nợ hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2017/QĐXXST-DS, ngày 23 tháng 6 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2017/QĐST-DS ngày 13 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phan Thị T, sinh năm 1982. (có mặt tại phiên tòa)
Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Kiên Giang.
2. Bị đơn: Bà Hồ Thị U, sinh năm 1971 (có mặt tại phiên tòa).
Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Kiên Giang.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Thanh H, sinh năm
1968 (chồng bà Hồ Thị U, vắng mặt tại phiên tòa).
Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày  03/4/2017, Biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 28/4/2017 và Biên bản hòa giải ngày 28/4/2017; các lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Phan Thị T trình bày:

Bà Phan Thị T tham gia 03 dây hụi tháng do bà Hồ Thị U làm chủ hụi. Cụ thể như sau:
- Dây hụi thứ nhất: Mở ngày 20/02/2014, 1.000.000 đồng/phần, mãn ngày 20/7/2016. Bà T tham gia 01 phần. Sau khi mãn hụi, số tiền bà T được nhận là 31.500.000 đồng (Ba mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng). Bà  U có trả cho bà T được số tiền 25.400.000 đồng (Hai mươi lăm triệu bốn trăm nghìn đồng), còn nợ lại số tiền 6.100.000 đồng (Sáu triệu một trăm nghìn đồng).
- Dây hụi thứ hai: Mở ngày 15/4/2015, 1.000.000 đồng/phần, mãn ngày 15/7/2017. Bà T tham gia 01 phần góp được 17 lần, số tiền thực đóng là 8.415.000 đồng (Tám triệu bốn trăm mười lăm nghìn đồng)
-Dây hụi thứ ba: Mở ngày 10/11/2015, 1.000.000 đồng/phần, mãn ngày 10/12/2017. Bà Ttham gia 01 phần, góp được 10  lần, số  tiền  thực đóng  là 5.310.000 đồng (Năm triệu ba trăm mười nghìn đồng).
Ngày 15/8/2016 bà  U tuyên bố đình hụi nhưng chưa giao trả tiền hụi cho bà T.
Đến ngày 07/4/2017 tại Ủy ban nhân dân xã B, bà  U có trả cho bà T số tiền 10.060 đồng (Mười triệu không trăm sáu mươi nghìn đồng).

Tại phiên hòa giải ngày 28/4/2017, sau khi tính toán cấn trừ bà T yêu cầu vợ chồng bà  U, ông H liên đới trả cho bà T số tiền hụi còn nợ là 19.825.000 đồng –10.060.000 đồng = 9.765.000 đồng (Chín triệu bảy trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) và yêu cầu tính lãi theo mức lãi suất 1,66%/tháng từ ngày 15/8/2016 đến ngày xét xử sơ thẩm. Tại Biên bản hòa giải ngày 28/4/2017; tại phiên tòa và các lời khai tại Tòa án, bị đơn bà Hồ Thị U trình bày:

Bà Hồ Thị U thống nhất với lời trình bày của bà Phan Thị T. Sau khi tuyên bố đình hụi (15/8/2016) bà  U còn nợ bà T số tiền của 03 dây hụi là 19.825.000 đồng (Mười chín triệu tám trăm hai mươi lăm nghìn đồng). Ngày 07/4/2017 bà  U có trả cho bà T số tiền hụi là 10.060.000 đồng (Mười triệu không trăm sáu mươi nghìn đồng).
Bà  U xác nhận bà  U làm chủ hụi nhiều năm ông H đều biết. Số tiền hoa hồng bà  U có được từ việc làm chủ hụi, được sử dụng chi tiêu chung trong gia đình. Bà  U và ông H cùng kinh doanh làm ăn để tạo thu nhập và cùng sử dụng tài sản chung.

Tại phiên tòa bà  U thừa nhận còn nợ bà T số tiền 9.765.000 đồng (Chín triệu bảy trăm sáu mươi lăm nghìn đồng). Bà U đồng ý trả cho bà T số tiền trên và tiền lãi theo yêu cầu của bà  U. Đối với trách nhiệm trả nợ của ông H, yêu cầu Tòa án xem xét theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Thanh H (chồng bà  U) vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa, không có lý do chính đáng: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông H như: Thông báo tham gia tố tụng với tư cách là Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa, nhưng ông H cố tình lánh mặt, đồng thời không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Thanh H được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai, nhưng ông H vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa nguyên
đơn bà Phan Thị T với bị đơn bà Hồ Thị U là “Tranh chấp nợ hụi”. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.
[3] Về nội dung: Nguyên đơn bà T khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà  U, ông H liên đới trả cho bà Hồng số tiền hụi còn nợ là 9.765.000 đồng (Chín triệu bảy trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) và yêu cầu tính lãi theo mức lãi suất 1,66%/tháng từ ngày 15/8/2016 đến ngày xét xử sơ thẩm.
Bị đơn bà  U thừa nhận còn bà T số tiền 9.765.000 đồng (Chín triệu bảy trăm sáu mươi lăm nghìn đồng). Bà U đồng ý trả cho bà T số tiền trên và tiền lãi theo yêu cầu của bà T. Đối với trách nhiệm trả nợ của ông H, yêu cầu Tòa án xem xét theo quy định của pháp luật.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà T: Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà  U thống nhất với lời trình bày của bà T. Bà U thừa nhận bà T có tham gia 03 dây hụi nêu trên, bà U còn nợ bà T số tiền 9.765.000 đồng (Chín triệu bảy trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).
Giao dịch tổ chức hụi và tham gia chơi hụi là sự tự nguyện thỏa thuận giữa các bên, phù hợp với quy định tại Điều 479 Bộ luật Dân sự 2005 và Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006  của Chính  phủ  quy định về  họ, hụi, biêu, phường. Vì vậy việc bà T khởi kiện bà U là có cơ sở.
Tại phiên tòa bà  U thống nhất trả số nợ trên cho bà T, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bà U.

[5] Về lãi suất: Trong quá trình tham chơi hụi, bà T thực hiện đúng nghĩa vụ của hụi viên, hàng tháng góp hụi đầy đủ cho bà  U. Tuy nhiên sau khi bà  U đình hụi, không giao trả đầy đủ số tiền hụi thực đóng cho bà T, thời gian chi trả kéo dài gây ảnh hưởng đến quyền lợi của bà T. Do đó bà T yêu cầu tính lãi số tiền trên là phù hợp.
Lãi suất các bên thỏa thuận 1,66%/tháng phù hợp với quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, nên Hội xét xử ghi nhận và làm căn cứ để tính lãi.
Số tiền 19.825.000 đồng, tính từ ngày 15/8/2016 đến ngày 06/4/2017 là:19.825.000 đồng x 07 tháng 21 ngàyx1,66%/tháng = 2.532.000 đồng (Hai triệu năm trăm ba mươi hai nghìn đồng). Số tiền 9.765.000 đồng (số tiền bà U còn sau khi đã cấn trừ), tính từ ngày 07/4/2017 đến ngày 28/7/2017 là: 9.765.000 đồng x 03 tháng  21ngày x 1,66%/tháng = 599.000 đồng (Năm trăm chín mươi chín nghìn đồng).
Như vậy tổng số tiền bà  U phải trả cho bà T là: 9.765.000 đồng + 3.131.000 đồng (tiền lãi) = 12.896.000 đồng (Mười hai triệu tám trăm chín mươi sáu nghìn đồng).

[7] Về trách nhiệm liên đới trả nợ của ông Trần Thanh H: Tại phiên hòa giải và tại phiên tòa bà  U xác nhận bà  U làm chủ hụi nhiều năm ông H đều biết. Số tiền hoa hồng bà  U có được từ việc làm chủ hụi, được sử dụng chi tiêu chung trong gia đình. Bà  U và ông H cùng kinh doanh làm ăn để tạo thu nhập và cùng sử dụng tài sản chung. Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho ông H, nhưng ông H cố tình lánh mặt, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà T. Căn cứ Điều 27, Điều 30 và Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thống nhất buộc ông H có trách nhiệm liên đới cùng bà U trả cho bà T số tiền hụi là 12.896.000 đồng (Mười hai triệu tám trăm chín mươi sáu nghìn đồng).

[8] Về án dân phí sơ thẩm: Áp dụng Đều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 6, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Vợ chồng bà  U, ông H phải chịu án phí có giá ngạch là 12.896.000 đồng x 5% = 644.000 đồng (Sáu trăm bốn mươi bốn nghìn đồng).
Hoàn trả cho bà T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 827.000 đồng (Tám trăm hai mươi bảy nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ các điều 26, 35, 39, 92, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- Áp dụng Điều 479 Bộ Luật Dân sự năm 2005; Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính Phủ; Điều 27, Điều 30 và Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 6, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử: 
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị T đối với bà Hồ Thị U, về việc "Tranh chấp nợ hụi".
2. Buộc vợ chồng bà Hồ Thị U, ông Trần Thanh H trả cho bà Phan Thị T số tiền hụi là 12.896.000 đồng (Mười hai triệu tám trăm chín mươi sáu nghìn đồng).
Các bên trực tiếp giao nhận tiền hoặc giao nhận tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.
Kể từ ngày bà T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà  U và ông H chậm trả số tiền nêu trên thì háng tháng bà  U, ông H còn phải trả cho bà T số tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

3.1. Buộc vợ chồng bà Hồ Thị U, ông Trần Thanh H phải chịu án phí có giá ngạch là 644.000 đồng (Sáu trăm bốn mươi bốn nghìn đồng).

3.2. Hoàn trả cho bà Phan Thị T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 827.000 đồng (Tám trăm hai mươi bảy nghìn đồng) theo lai thu số 0000973 ngày 04/4/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.
4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.


65
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Văn bản được căn cứ
        Bản án/Quyết định đang xem

        Bản án 36/2017/DS-ST ngày 28/07/2017 về tranh chấp nợ hụi

        Số hiệu:36/2017/DS-ST
        Cấp xét xử:Sơ thẩm
        Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện U Minh Thượng - Kiên Giang
        Lĩnh vực:Dân sự
        Ngày ban hành:28/07/2017
        Là nguồn của án lệ
          Bản án/Quyết định sơ thẩm
            Án lệ được căn cứ
               
              Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
                Bản án/Quyết định phúc thẩm
                  Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về