Bản án 36/2017/HC-ST ngày 25/07/2017 về khiếu kiện quyết định bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

 TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 36/2017/HC-ST NGÀY 25/07/2017 VỀ KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ

Ngày 25 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 45/2017/TLST-HC ngày 20/4/2017 về “Khiếu kiện quyết định bồi thường, hỗ trợ và tái định cư”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2017/QĐXXST-HC ngày 28/6/2017 giữa các đương sự:

1. Người khởi kiện: Ông Uông Hoài A, sinh năm 1966 (vắng mặt).

Địa chỉ: Khu phố H, thị trấn A, huyện P, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện hợp pháp của người khởi kiện: Ông Trần Văn A, sinh năm 1982 (văn bản ủy quyền ngày 17/5/2017) (có mặt).

Địa chỉ: Số 124C, đường H, phường M, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện P.

Địa chỉ: Số 04, đường B, khu phố H, thị trấn D, huyện P, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện hợp pháp của người bị kiện: Ông Đinh Khoa T, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ kiện, người khởi kiện ông Uông Hoài A và người đại diện là ông Trần Văn A trình bày:

Ngày 27/6/2014, Ủy ban nhân dân huyện P ban hành Quyết định 3423/QĐ-UBND thu hồi 3.464,1 m2 và Quyết định 3219/QĐ-UBND thu hồi 805,6 m2 đất trồng cây lâu năm tại ấp 6, thị trấn A, huyện P tỉnh Kiên Giang của ông Uông Hoài A để thực hiện dự án Khu phức hợp du lịch sinh thái Bãi Khem do Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên M đầu tư tại thị trấn A, huyện P, tỉnh Kiên Giang. Tổng diện tích đất của ông A bị thu hồi là 4.269,7 m2. Ủy ban nhân dân huyện P đã bồi thường cho ông A đối với diện tích 1.148,1 m2 trong tổng diện tích 3.464,1 m2 bị thu hồi theo Quyết định 3423/QĐ-UBND, diện tích còn lại chưa được bồi thường nên ông A khiếu nại.

Ngày 06/3/2017 Ủy ban nhân dân huyện P ban hành Quyết định 2247/QĐ-UBND về việc bổ sung bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án Khu phức hợp du lịch sinh thái Bãi Khem, tại thị trấn A, huyện P, tỉnh Kiên Gang.

Quyết định 2247/QĐ-UBND bồi thường, hỗ trợ cho ông Uông Hoài A số tiền 1.204.320.000 đồng (một tỷ hai trăm lẻ bốn triệu ba trăm hai mươi ngàn đồng) đối với diện tích 2.316 m2 bị thu hồi theo Quyết định 3423/QĐ-UBND ngày 27/6/2014. Còn diện tích 805,6 m2 đến nay chưa được bồi thường.

Nội dung Quyết định 2247/QĐ-UBND bồi thường, hỗ trợ cho ông Uông Hoài A các khoản bao gồm:

Đất đai: Bồi thường 301.080.000 đồng (ba trăm lẻ một triệu không trăm tám mươi ngàn đồng); Hỗ trợ 903.240.000 đồng (chín trăm lẻ ba triệu hai trăm bốn mươi ngàn đồng).

Ông Uông Hoài A cho rằng Quyết định 2247/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân huyện P đã gây thiệt hại cho gia đình ông, cụ thể như sau:

Căn cứ theo số tiền bồi thường chia cho diện tích đất bị thu hồi thì mỗi mét vuông đất của ông chỉ được bồi thường 130.000 đồng (301.080.000 đồng /2.316 m2), và hỗ trợ mỗi mét vuông là 390.000 đồng (903.240.000 đồng/2.316m2).

Căn cứ Quyết định 35/2014/QĐ-UBND ngày 22/12/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang về việc ban hành Quy định bảng giá đất đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Kiên Giang thì đất của ông A thuộc khu vực trong thị trấn A, vị trí 2, có giá là 170.000 đồng, loại đất trồng cây lâu năm, và áp dụng hệ số điều chỉnh giá đất là 1,3 theo Quyết định 04/2016/QĐ-UBND ngày 15/01/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang Quy định về hệ số điều chỉnh giá đất trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.

Như vậy mỗi mét vuông đất vừa bồi thường vừa hỗ trợ là 731.000 đồng. Nhưng Ủy ban nhân dân huyện P chỉ bồi thường và hỗ trợ cho ông A 1m2 đất = 520.000 đồng, gây thiệt hại mỗi m2 là 211.000 đồng.

Ông Uông Hoài A bị thu hồi đất năm 2014, nhưng đến năm 2017 mới được bồi thường là do lỗi của Ủy ban nhân dân huyện P, nên Ủy ban nhân dân huyện phải áp giá đất năm 2017 để bồi thường mới phù hợp. Cụ thể là giá đất theo Quyết định 35/2014/QĐ-UBND ngày 22/12/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang về việc ban hành Quy định Bảng giá đất đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Kiên Giang và áp dụng hệ số điều chỉnh theo Quyết định 04/2016/QĐ-UBND ngày 15/01/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang về việc quy định hệ số điều chỉnh giá đất trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.

Theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành thì Ủy ban nhân dân huyện P phải khảo sát giá đất theo thị trường cho từng dự án để bồi thường, hỗ trợ cho người có đất bị thu hồi.

Ủy ban nhân dân huyện P không hỗ trợ ổn định đời sống cho gia đình ông A theo quy định tại Quyết định 22/2015/QĐ-UBND ngày 17/6/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Kiên Giang. Vì vậy ông A yêu cầu Tòa án giải quyết hủy Quyết định 2247/QĐ-UBND ngày 06/3/2017 của Ủy ban nhân dân huyện P.

Người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện P đã nhận Thông báo thụ lý vụ án, Quyết định đưa vụ án ra xét xử... nhưng không có văn bản ý kiến đối với yêu cầu của người khởi kiện, không cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc ban hành quyết định bị kiện. Đại diện của người bị kiện là ông Đinh Khoa T, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến của người bị kiện.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Ông Trần Văn A yêu cầu Tòa án hủy Quyết định 2247/QĐ-UBND ngày 06/3/2017 của Ủy ban nhân dân huyện P về việc bổ sung bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án Khu phức hợp sinh thái Bãi Khem tại thị trấn A, huyện P, tỉnh Kiên Giang đối với ông Uông Hoài A.

Vì quyết định này ban hành căn cứ theo Quyết định 1950/QĐ-UBND ngày 20/02/2017 của Ủy ban nhân dân huyện P về việc phê duyệt phương án bổ sung và thu hồi kinh phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án Khu phức hợp sinh thái Bãi Khem tại thị trấn A, huyện P, tỉnh Kiên Giang là một quyết định được ban hành không đúng quy định của pháp luật. Cụ thể:

Tại thời điểm ban hành Quyết định 1950/QĐ-UBND thì Quyết định 31/2013/QĐ-UBND ngày 20/12/2013 của UBND tỉnh Kiên Giang về việc ban hành bảng quy định giá các loại đất năm 2014 trên địa bàn tỉnh Kiên Giang đã không còn hiệu lực. Thời điểm này Ủy ban nhân dân huyện P phải áp dụng Quyết định 35/2014/QĐ-UBND ngày 22/12/2014 của UBND tỉnh Kiên Giang về việc Quy định Bảng giá đất đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (thay thế Quyết định 31/2013/QĐ-UBND) để làm căn cứ hỗ trợ mới phù hợp.

Ông A yêu cầu Tòa án áp dụng điểm a khoản 4 Điều 34 của Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để buộc Ủy ban nhân dân huyện P ban hành quyết định bồi thường mới đối với ông A.

Việc Ủy ban nhân dân huyện P thu hồi đất của ông A từ tháng 6 năm 2014 đến tháng 2 năm 2017 mới bồi thường là lỗi của Ủy ban nhân dân huyện P.

Phương án bồi thường cho ông A được phê duyệt năm 2017 thì phải áp dụng các quy định của Luật đất đai 2013 để lập phương án.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 74 của Luật Đất đai năm 2013: “Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất”.

Số tiền bồi thường, hỗ trợ theo Quyết định 2247/QĐ-UBND ông A đã nhận nên sẽ tự nguyện khấu trừ khi có Quyết định bồi thường mới.

Đối với yêu cầu buộc Ủy ban nhân dân huyện P phải bồi thường cho diện tích 805,6 m2 đất bị thu hồi theo Quyết định 3219/QĐ-UBND ngày 27/6/2014 của Ủy ban nhân dân huyện P ông Trần Văn A đã có đơn yêu cầu rút lại vì đang khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền. Tại phiên tòa ông A giữ nguyên yêu cầu của mình.

Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm nhân nhân,Thư ký Tòa án và việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng:

Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng hành chính tại phiên tòa sơ thẩm.

Thẩm phán thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, thu thập chứng cứ đủ điều kiện để giải quyết vụ kiện.

Người khởi kiện, người đại diện hợp pháp của người khởi kiện: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính.

Đối với người bị kiện: Trong quá trình giải quyết vụ án, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt là đúng theo quy định tại Điều 158 của Luật tố tụng hành chính. Tuy nhiên người bị kiện là Ủy ban nhân dân huyện P chưa chấp hành về nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh trong tố tụng hành chính theo quy định tại Điều 78 Luật tố tụng hành chính. Mặc dù đã nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án và Quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án nhưng người bị kiện không có ý kiến đối với Quyết định hành chính bị kiện. Việc người bị kiện không tham gia trong suốt quá trình tố tụng gây khó khăn cho các cơ quan tiến hánh tố tụng trong việc xem xét, đánh giá chứng cứ giải quyết vụn án.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện ông Uông Hoài A, hủy Quyết định 2247/QĐ-UBND ngày 06/3/2017 của Ủy ban nhân dân huyện P và buộc Ủy ban nhân dân huyện P phải bồi thường, hỗ trợ bổ sung cho ông Uông Hoài A theo đúng quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ kiện được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

 [1] Về thủ tục tố tụng: Quyết định 2247/QĐ-UBND ngày 06/3/2017 của Ủy ban nhân dân huyện P về việc bổ sung bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án khu phức hợp sinh thái Bãi Khem là quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang theo quy định tại Điều 30, Điều 32 Luật Tố tụng hành chính.

Đại diện người bị kiện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 158 của Luật Tố tụng hành chính để xét xử vắng mặt người bị kiện.

 [2] Về nội dung:

Ngày 27/6/2014 Ủy ban nhân dân huyện P ban hành Quyết định 3423/QĐ-UBND thu hồi của ông Uông Hoài A 3.464,1 m2 đất trồng cây lâu năm tại thị trấn A, huyện P, tỉnh Kiên Giang để thực hiện dự án khu phức hợp du lịch sinh thái Bãi Khem. Trong số 3.464,1 m2 đất của ông A bị thu hồi thì có 1.148,1 m2 đất đã được bồi thường, hỗ trợ thỏa đáng. Còn lại diện tích 2.316 m2 bị thu hồi không được bồi thường nên ông A khiếu nại yêu cầu bồi thường.

Đến ngày 06/3/2017 Ủy ban nhân dân huyện P ban hành Quyết định 2247/QĐ-UBND về việc bổ sung bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho ông A do bị thu hồi đất.

Quyết định 2247/QĐ-UBND ban hành căn cứ vào Quyết định 1950/QĐ-UBND ngày 20/02/2017 của Ủy ban nhân dân huyện P về việc phê duyệt phương án bổ sung và thu hồi kinh phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án Khu phức hợp du lịch sinh thái Bãi Khem tại thị trấn A, huyện P, tỉnh Kiên Giang.

 [3] Quyết định 1950/QĐ-UBND ngày 20/02/2017 do Ủy ban nhân dân huyện P ban hành đúng thẩm quyền được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 69 của Luật Đất đai 2013.

Về nội dung của Quyết định 1950/QĐ-UBND: Ủy ban nhân dân huyện P áp dụng Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành là Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai; Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Thông tư 37/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Quyết định 31/2008/QĐ-UBND ngày 20/10/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang về việc ban hành Bảng quy định đơn giá bồi thường cây trồng, hoa màu trên địa bàn tỉnh Kiên Giang; Quyết định 22/2015/QĐ-UBND ngày 17/6/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang về việc ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Kiên Giang; Quyết định 35/2012/QĐ-UBND ngày 30/11/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang về việc ban hành Bảng quy định đơn giá xây dựng mới nhà ở, công trình xây dựng và vật kiến trúc; Quyết định 31/2013/QĐ-UBND ngày 20/12/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang về việc ban hành Bảng quy định giá các loại đất năm 2014 trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.

Trong các văn bản nêu trên, tại thời điểm tháng 02 năm 2017 Quyết định 31/2013/QĐ-UBND ngày 20/12/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang đã hết hiệu lực và được thay thế bằng Quyết định 35/2014/QĐ-UBND ngày 22/12/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang về việc Quy định Bảng giá đất đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.

Ủy ban nhân dân huyện P không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông A nên Tòa án không xác định được giá đất Ủy ban nhân dân huyện P bồi thường cho ông A có được áp dụng theo quy định tại khoản 2 Điều 74 và khoản 3, khoản 4 Điều 114 của Luật Đất đai 2013 hay không.

Tuy nhiên, trong Quyết định 1950/QĐ-UBND không nêu căn cứ vào Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang về việc quyết định giá đất cụ thể để bồi thường cho ông A như quy định tại khoản 3 Điều 114 của Luật Đất đai 2013, nên có căn cứ để khẳng định Ủy ban nhân dân huyện P chỉ sử dụng Bảng giá đất theo Quyết định 31/2013/QĐ-UBND ngày 20/12/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang để phê duyệt phương án đền bù, hỗ trợ khi thu hồi đất đối với ông A.

Tại điểm a khoản 3 Điều 69 của Luật Đất đai 2013 quy định: “Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quy định tại Điều 66 của Luật này quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong cùng một ngày”.

Ủy ban nhân dân huyện P thu hồi đất của ông A từ tháng 6 năm 2014, đến tháng 02 năm 2017 mới phê duyệt phương án đền bù, nhưng lại không áp dụng hướng dẫn tại điểm a khoản 4 Điều 34 của Nghị định 47/2014/NĐ-CP của Chính phủ về xử lý một số vấn đề phát sinh khi ban hành Nghị định, làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của ông A.

Trong trường hợp này Ủy ban nhân dân huyện P phải xây dựng phương án đền bù khi thu hồi đất dựa trên cơ sở pháp luật được quy định tại khoản 2 Điều 74, khoản 3, khoản 4 Điều 114 của Luật Đất đai năm 2013; khoản 1 Điều 14 của Quyết định 22/2015/QĐ-UBND ngày 17/6/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Kiên Giang: “Bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm thu hồi đất”, “Hỗ trợ bằng tiền bằng 03 lần giá đất nông nghiệp cùng loại theo bảng giá đất do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định nhân với hệ số điều chỉnh (nếu có) đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi” và áp dụng các chính sách hỗ trợ khác khi thu hồi đất cho ông A (nếu có) theo Quyết định 22/2015/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang.

Với những sai sót này cần thiết phải hủy Quyết định 2247/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân huyện P và kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện P phải lập phương án bồi thường, hỗ trợ và ra quyết định bồi thường, hỗ trợ cho ông A theo đúng quy định của pháp luật đất đai và các văn bản hướng dẫn. Trường hợp chậm bồi thường còn phải thanh toán thêm cho ông A một khoản tiền bằng mức tiền chậm nộp theo quy định của Luật quản lý thuế tính trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 93 của Luật đất đai năm 2013.

 [4] Từ những nhận định trên, sau khi thảo luận, Hội đồng xét xử nghị nên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Uông Hoài A và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, hủy Quyết định số 2247/QĐ-UBND ngày 06/3/2017 của Ủy ban nhân dân huyện P, kiến nghị UBND huyện P ban hành quyết định bồi thường, hỗ trợ cho ông A theo đúng quy định của pháp luật.

 [5] Ông Trần Văn A rút yêu cầu của ông Uông Hoài A buộc Ủy ban nhân dân huyện P phải bồi thường cho diện tích 805,6 m2 đất bị thu hồi theo Quyết định số 3219/QĐ-UBND ngày 27/6/2014 của Ủy ban nhân dân huyện P. Hội đồng xét xử thống nhất đình chỉ giải quyết theo quy định của pháp luật.

 [6] Án phí hành chính sơ thẩm: Ông A không phải chịu án phí. Hoàn trả cho ông A số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Ủy ban nhân dân huyện P phải chịu án phí 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 30, Điều 32, Điều 165 và Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính;

Căn cứ Điều 69, Điều 74, Điều 93 và Điều 114 của Luật Đất đai 2013; Căn cứ Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ;

Căn cứ Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ;

Căn cứ Quyết định 22/2015/QĐ-UBND ngày 17/6/2015 của Ủy ban nhân

dân tỉnh Kiên Giang về việc ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Kiên Giang;

Căn cứ khoản 2 Điều 32 của Nghị quyết 32/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Uông Hoài A.

Hủy Quyết định 2247/QĐ-UBND ngày 06/3/2017 của Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Kiên Giang về việc bổ sung bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án Khu phức hợp du lịch sinh thái Bãi Khem, tại thị trấn A, huyện P, tỉnh Kiên Giang.

2. Kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện P ban hành quyết định mới bồi thường, hỗ trợ cho ông Uông Hoài A thay thế cho quyết định đã bị hủy theo đúng quy định của pháp luật.

3. Đình chỉ xét xử yêu cầu của ông Uông Hoài A buộc Ủy ban nhân dân huyện P bồi thường đối với diện tích 805,6 m2 đất bị thu hồi theo Quyết định 3219/QĐ-UBND ngày 27/6/2014 của Ủy ban nhân dân huyện P.

4. Án phí hành chính sơ thẩm:

- Ủy ban nhân dân huyện P phải nộp 300.000 đồng.

- Hoàn trả cho ông Uông Hoài A 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0005906 ngày 18/4/2017 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết; thời hạn kháng cáo đối với quyết định đình chỉ là 07 ngày kể từ ngày nhận được hoặc kể từ ngày được niêm yết công khai theo quy định của Luật tố tụng hành chính./. 


153
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về