Bản án 36/2017/HNGĐ-ST ngày 05/09/2017 về kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI

BẢN ÁN 36/2017/HNGĐ-ST NGÀY 05/09/2017 VỀ KIỆN XIN LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 05/9/2017, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 206/2017/TLST - HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2017 về việc kiện “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2017/QĐXXST - HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Đoan Tr - Sinh năm 1991

Địa chỉ: Tổ 02, phường Ph, thành phố L, tỉnh Lào Cai. (vắng mặt)

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H - Sinh năm 1986

Nơi Đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 35, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai

Hiện đang chấp hành án tại Trại tạm giam công an tỉnh Lào Cai (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Đoan Tr trình bày: Chị Trần Đoan Tr và anh Nguyễn Văn H tự nguyện tìm hiểu yêu thương và kết hôn với nhau ngày 07/12/2012 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do anh H có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác từ đó dẫn đến vợ chồng thiếu sự tôn trọng nhau, anh H không quan tâm đến vợ con, vợ chồng thường xuyên đánh cãi chửi nhau, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Sau đó anh H bị Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai xử phạt 2 năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và hiện nay đang cải tạo tại Trại tạm giam công an tỉnh Lào Cai. Từ khi anh H bị bắt đến nay vợ chồng không hỏi han quan tâm gì đến nhau, chị Tr đã chuyển về chung sống cùng bố mẹ đẻ. Đến nay, chị Tr xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn H để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Quá trình chung sống cợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Tấn D - sinh ngày 17/9/2013 khi ly hôn chị Tr đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu D, không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con

Về tài sản: Chị Trần Đoan Tr không yêu cầu tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 09/8/2017, bị đơn anh Nguyễn Văn H khai: Anh Nguyễn Văn H và chị Trần Đoan Tr tự nguyện tìm hiểu yêu thương và kết hôn với nhau ngày 07/12/2012 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là năm 2016 anh H bị Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai xử phạt 2 năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, do ở trong trại giam chấp hành án không có điều kiện quan tâm chăm sóc vợ con nên tình cảm vợ chồng xa cách. Đến nay, chị Tr xin ly hôn anh H cũng nhất trí.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Tấn D - sinh ngày 17/9/2013 khi ly hôn anh H nhất trí để chị Tr được nuôi con, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con

Về tài sản: Anh Nguyễn Văn H không yêu cầu tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa chị Trần Đoan Tr và anh Nguyễn Văn H đều có đơn xin xét xử văng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Trần Đoan Tr, bị đơn anh Nguyễn Văn H đều có đơn đề xét xử vắng mặt vì vậy Hội đồng xét xử vắng mặt tất cả các đương sự

[2] Về hôn nhân: Chị Trần Đoan Tr và anh Nguyễn Văn H tự nguyện tìm hiểu yêu thương và kết hôn với nhau ngày 07/12/2012 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, năm 2016 anh H bị Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai xử phạt 2 năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” hiện tại anh H đang chấp hành án tại trại tạm giam công an tỉnh Lào Cai. Chị Tr xét thấy tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H, anh H nhất trí ly hôn. Như vậy tình cảm vợ chồng giữa chị Tr và anh H đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Đoan Tr với anh Nguyễn Văn H.

[3] Về con chung: Xét việc giao nuôi con thì thấy rằng anh Nguyễn Văn H hiện đang chấp hành án, cháu Nguyễn Tấn D đang ở cùng chị Tr, chị Tr có việc làm ổn định. Căn cứ điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao cháu Nguyễn Tấn D cho chị Tr trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về tài sản chung: Chị Trần Đoan Tr không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Chị Trần Đoan Tr phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn.

Từ những nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 238; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Đoan Tr và anh Nguyễn Văn H

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Tấn D - sinh ngày 17/9/2013 cho chị Trần Đoan Tr trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu D đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh Nguyễn Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Tr. Anh H được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung chị Tr không được ngăn cản.

3. Về án phí: Chị Trần Đoan Tr phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn. Xác nhận chị Tr đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004469 ngày 02/8/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai, được trừ vào tiền án phí phải nộp.

Chị Trần Đoan Tr, anh Nguyễn Văn H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


41
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 36/2017/HNGĐ-ST ngày 05/09/2017 về kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

Số hiệu:36/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Lào Cai - Lào Cai
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:05/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về