Bản án 36/2017/HNGĐ-ST ngày 06/07/2017 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 36/2017/HNGĐ-ST NGÀY 06/07/2017 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 06 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 123/2017/TLST- HNGĐ, ngày 02 tháng 6 năm 2017 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2017/QĐXX-ST ngày 13 tháng 6 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1987

Địa chỉ: ấp V, xã Đ, huyện C, tỉnh Long An

2. Bị đơn: Ông Trần Văn C, sinh năm 1982

Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Long An.

(Các đương sự có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 25 tháng 4 năm 2017 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim T trình bày:

Bà và ông C kết hôn vào năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, hôn nhân do hai bên tự tìm hiểu. Sau ngày cưới, cuộc sống vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ông C thường hay uống rượu về kiếm chuyện gây gổ với bà và khó khăn trong chuyện tiền bạc, ông C không thích gia đình bà. Trong thời gian sống chung với ông C, bà đã nhiều lần bỏ về nhà cha mẹ ruột sống, bà và ông C không còn sống chung với nhau từ tháng 02/2017 cho đến nay. Bà thấy vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu ly hôn với ông C.

Về con chung: Bà và ông C có 02 người con chung tên:

- Trần Văn Minh T, sinh ngày 01/4/2006.

- Trần Quốc K, sinh ngày 02/9/2016.

Hiện nay hai con chung đang do bà nuôi dưỡng và nguyện vọng của Minh T khi cha mẹ ly hôn muốn sống với mẹ. Nếu được ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con chung, yêu cầu ông C phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng cho hai người con.

Về chia tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Tại lời khai ngày 13 tháng 6 năm 2017 và tại phiên tòa bị đơn ông Trần Văn C là bị đơn trình bày:

Thời gian, điều kiện kết hôn đúng như lời bà T trình bày nhưng diễn biến quá trình chung sống không đúng. Sau khi cưới, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, thỉnh thoảng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng ý kiến, tính tình không hợp, mỗi lần uống rượu về có gây sự với vợ do lúc say quá không kiềm chế được bản thân nên có lời qua tiếng lại, trong thời gian sống chung bà T đã bỏ nhà đi 03 lần, ông đã năn nỉ, bà T trở về rồi đến tháng 02/2017 bà T lại đi tiếp đến nay không chịu về. Nay bà T yêu cầu ly hôn ông không đồng ý ly hôn vì ông vẫn còn thương vợ con rất nhiều.

Về con chung: Đúng như bà T trình bày, ông và bà T có 02 người con chung tên Trần Văn Minh T, sinh ngày 01/4/2006 và Trần Quốc K, sinh ngày 02/9/2016. Hiện tại hai con đang sống với bà T. Nếu ly hôn, ông đồng ý để cho bà T trực tiếp nuôi hai con chung, ông sẽ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng cho hai người con.

Về chia tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Kim T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Trần Văn C. Tòa án nhân dân huyện Châu Thành thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Thấy rằng, bà T và ông C kết hôn vào năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thuận Mỹ vào ngày 14/5/2007. Quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông C là hôn nhân hợp pháp.

Theo lời trình bày của các đương sự, thấy rằng quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông C đã xảy ra nhiều mâu thuẫn nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ông C thường hay uống rượu về kiếm chuyện gây gổ với bà.

Tòa án đã tiến hành hòa giải đoàn tụ nhưng không thành, bà T kiên quyết ly hôn với ông C vì không còn tình cảm với ông C, nhất quyết không trở về chung sống với ông C, ông C không đồng ý ly hôn vì ông vẫn còn thương vợ con rất nhiều, nhưng không có cách nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông C đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà T yêu cầu ly hôn với ông C là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T.

Về con chung: Bà T và ông C có 02 người con chung tên Trần Văn Minh T, sinh ngày 01/4/2006 và Trần Quốc K, sinh ngày 02/9/2016. Xét thấy, 02 con chung đang sống ổn định với bà T và nguyện vọng của Minh T muốn sống với mẹ, còn Quốc K còn nhỏ chưa được 36 tháng tuổi, để không ảnh hưởng đến cuộc sống của con chung và bảo đảm quyền lợi mọi mặt của con chung nên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết để bà T trực tiếp nuôi hai con chung là phù hợp, ông C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng cho hai người con.

Về chia tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí: Bà T là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng. Ông Trần Văn C phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Điều 56, 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Kim T và ông Trần Văn C.

2. Về nuôi con chung: Giao hai con chung tên Trần Văn Minh T, sinh ngày 01/4/2006 và Trần Quốc K, sinh ngày 02/9/2016 cho bà Nguyễn Thị Kim T trực tiếp nuôi dưỡng.

Ông Trần Văn C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng) cho hai người con. Thời gian cấp dưỡng từ tháng 7 năm 2017 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Người không trực tiếp nuôi con, có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007645 ngày 02 tháng 6 năm 2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Long An.

Ông Trần Văn C phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


35
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 36/2017/HNGĐ-ST ngày 06/07/2017 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:36/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Long An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:06/07/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về