Bản án 36/2017/HNGĐ-ST ngày 21/07/2017 về tranh chấp xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, TP HÀ NỘI

BẢN ÁN 36/2017/HNGĐ-ST NGÀY 21/07/2017 VỀ TRANH CHẤP XIN LY HÔN 

Ngày 21 tháng 07 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 242/2015/TLST -HNGĐ ngày 03/04/2017 về tranh chấp: xin ly hôn; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2017/QĐST-HNGĐ ngày 09/06/2017; Thông báo đổi ngày xét xử số 168/2017/TB-TA ngày 26/06/2917 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị A - Sinh năm 19xx

HKTT: đường C, phường D, quận F, Hà Nội.

Tạm trú: Số Q ngõ G phố H, quận F, Hà Nội.

Nghề nghiệp: Tự do

(Có mặt tại phiên tòa)

* Bị đơn: Anh B - Sinh năm 19xx

HKTT và nơi ở: Số Q ngõ G phố H, quận F, Hà Nội.

Nghề nghiệp: Buôn bán

(Có mặt tại phiên tòa)

NHẬN THẤY

* Tại đơn xin ly hôn đề ngày 16/03/2017, bản tự khai ngày 10.04.2017, biên bản hòa giải ngày 26/05/2017 Nguyên đơn Chị A trình bầy:

Chị kết hôn với Anh B vào năm 1989 do tự nguyện, trước đó chưa ai có vợ, có chồng. Hai bên đăng ký kết hôn ngày 19xx tại Ủy ban nhân dân phường D, quận F - Hà Nội.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại Số Q ngõ G phố H, quận F, Hà Nội.

Mâu thuẫn vợ chồng xẩy ra từ năm 1994 lý do anh A có người đàn bà khác; từ đó vợ chồng không còn lòng tin với nhau nữa. Vợ chồng hay va chạm mâu thuẫn nên từ cuối năm 2014 chị đã về nhà mẹ đẻ ở. Sau đó đến tháng 02/2015 chị có quay về để tổ chức đám cưới cho con và có ở lại nhà một thời gian. Đến tháng 5/2016 chị lại về nhà mẹ đẻ ở cho đến nay.

Chị đã nhiều lần làm đơn xin ly hôn, sau lại rút đơn.

Đến nay tình cảm vợ chồng không còn, chị kiên quyết xin ly hôn với anh Tuấn.

*Tại bản tự khai ngày 09/03/2017, biên bản hòa giải ngày 26/05/2017, Bị đơn Anh B trình bày:

Về thời gian, điều kiện kết hôn anh xác nhận đúng như chị A trình bày

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại Số Q ngõ G phố H, quận F, Hà Nội.

Vợ chồng chúng tôi chung sống bình thường và đã có hai con chung.

Năm 1994, trong quan hệ bạn bè, anh có quan hệ bạn bè với một người phụ nữ nhưng do chị A ghen nên anh đã chấm dứt quan hệ bạn bè với người phụ nữ đó.

Anh là người luôn có trách nhiệm với gia đình, chịu khó buôn bán làm ăn, không có sai phạm gì,

Chỉ có duy nhất một lần vào tháng 4/2017 do chị A có lời nói không đúng với tội, chỉ vào mặt tôi nói tội là chó nên tôi có tát chị A một cái, ngoài ra không có lần nào khác đánh chị A

Trong quá trình chung sống, chị A đã bỏ về nhà ngoại 4 lần, do chị A tự ý bỏ đi.

Từ tháng 5/2016 đến nay chị A về nhà bố mẹ đẻ ở, trước đó chị A bỏ đi 5 tháng, khi cưới con gái tội gọi về, chị A có về làm đám cưới cho con, vợ chồng chung sống một thời gian sau đó chị A lại bỏ đi.

Đến nay, tình cảm vợ chồng vẫn còn, chị A xin ly hôn tôi không đồng ý. Ngoài ra, nếu ly hôn thì ảnh hưởng đến việc quản lý, sử dụng quầy hàng tối đang kinh doanh. (ĐKKD đứng tên chị A)

Về con:

Hai bên xác nhận có hai con chung là Nguyễn Duy Q - sinh năm: 1990 và Nguyễn Anh T- sinh năm: 1994. Hiện hai con đều đã đủ tuổi trưởng thành và đều đã có gia đình riêng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản:

Hai bên xác nhận vợ chồng tự giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nhà ở:

Hai bên xác nhận vợ chồng tự giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về vay nợ:

Hai bên xác nhận vợ chồng không có khoản nợ nào chung, không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Phiên tòa

* Chị A vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn đối với anh B và giữ nguyên ý kiến đã trình bày về con, về tài sản, nhà ở, về vay nợ như trước đây đã trình bầy tại Toà.

Chị xác nhận tình cảm vợ chồng không còn, kiên quyết xin ly hôn với anh Tuấn.

* Anh B đồng ý ly hôn đối với chị A vì chị A đã nhiều lần làm đơn xin ly hôn anh, danh dự và sức chịu đựng của anh cũng có hạn. Nếu không vì gia đình thì anh đã làm đơn xin ly hôn vì chị A có quan hệ với bạn anh.

Anh giữ nguyên ý kiến đã trình bày về con, về tài sản, nhà ở, về vay nợ như trước đây đã trình bầy tại Toà. Các vấn đề về tài sản trong đó có cả chỗ bán hàng vợ chồng tự giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Hai Bà Trưng phát biểu:

- Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án -Thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật được quy định tại Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Quá trình xét xử - Hội đồng xét xử và đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật được quy định tại Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Đề nghị: Xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị A và anh B

Về con: Vợ chồng có 02 con chung, các con đều đã đủ tuổi trưởng thành nên không xét.

Về tài sản, nhà ở: Hai bên xác nhận tự giải quyết, không yêu cầu giải quyết nên Tòa không xét.

Về vay nợ: Hai bên xác nhận vợ chồng không có khoản nợ nào chung, không cho ai vay nợ, không yêu cầu giải quyết nên Tòa không xét.

XÉT THẤY

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa

Căn cứ lời trình bày của các đương sự và phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Hai Bà Trưng tại phiên tòa.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:

Chị A và anh B Tuấn kết hôn do tự nguyện, trước đó chưa ai có vợ, có chồng. Hai bên đăng ký kết hôn ngày xx/xx/19xx tại Ủy ban nhân dân phường D, quận F, Hà Nội - Đây là một hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại Số Q ngõ G phố H, quận F, Hà Nội.

Mâu thuẫn vợ chồng theo chị A trình bầy xẩy ra từ năm 1994, Vợ chồng hay va chạm mâu thuẫn nên từ cuối năm 2014 chị đã về nhà mẹ đẻ ở. Sau đó đến tháng 02/2015 chị có quay về để tổ chức đám cưới cho con và có ở lại nhà một thời gian. Đến tháng 5/2016 chị lại về nhà mẹ đẻ ở cho đến nay.

Tình cảm vợ chồng không còn, chị kiên quyết xin ly hôn với anh B

Theo anh B trình bầy: Vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn. Anh là người luôn có trách nhiệm với gia đình, chịu khó buôn bán làm ăn. Không có sai phạm gì.

Chỉ có duy nhất một lần vào tháng 4/2017 do chị A có lời nói không đúng với tôi, chỉ vào mặt tôi nói tôi là chó nên tôi có tát chị A một cái, ngoài ra không có lần nào khác đánh chị A

Trong quá trình chung sống, chị A đã bỏ về nhà ngoại 4 lần, do chị A tự ý bỏ đi.

Từ tháng 5/2016 đến nay chị A về nhà bố mẹ đẻ ở, trước đó chị A bỏ đi 5 tháng, khi cưới con gái tôi gọi về, chị A có về làm đám cưới cho con, vợ chồng chung sống một thời gian sau đó chị A lại bỏ đi.

Theo địa phương cung cấp: Vợ chồng có mâu thuẫn không bộc lộ ra ngoài. Chị Quế Anh đã về nhà mẹ đẻ để ở.

Xét mâu thuẫn vợ chồng xẩy ra đã lâu, tại phiên tòa, anh B đồng ý ly hôn với chị A - nghĩ nên xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị A và anh TB là phù hợp với thực tế.

Về Con: Hai bên xác nhận có 02 con chung, các con đều đã đủ tuổi trưởng thành nên không xét.

Về tài sản, nhà ở: Hai bên xác nhận tự giải quyết, không yêu cầu giải quyết nên Tòa không xét.

Về vay nợ: Hai bên xác nhận vợ chồng không có khoản nợ nào chung, không cho ai vay nợ, không yêu cầu giải quyết nên Tòa không xét.

Về án phí: Ghi nhận sự tự nguyện của chị A chịu cả án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ điều 55, khoản 1 điều 57 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014

- Căn cứ khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, khoản 3 điều 36, khoản 4 điều 147, điều 220, khoản 1 điều 227, điều 235, điều 266, điều 271, điều 274, điều 278, điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Căn cứ khoản 5 điều 19, điểm a khoản 1 điều 24, điểm a khoản 5 điều 27, khoản 1.1 điều 1, mục ii Danh mục án phí lệ phí Tòa án Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

* Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị A với anh B

- Về con: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Duy Q - sinh năm: 19xx và Nguyễn Anh T - sinh năm: 19xx ; các con đều đã đủ tuổi trưởng thành nên không xét.

- Về tài sản, nhà ở: Hai bên xác nhận tự giải quyết, không yêu cầu giải quyết nên Tòa không xét.

- Về vay nợ: Hai bên xác nhận vợ chồng không có khoản nợ nào chung, không cho ai vay nợ, không yêu cầu giải quyết nên Tòa không xét.

* Về án phí: Ghi nhận sự tự nguyện của chị A chịu cả 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào 300.000đ dự phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002516 ngày 28/03/2017 Chi cục Thi hành án Dân sự Quận Hai Bà Trưng- Thành phố Hà Nội.

- Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án

- Viện Kiểm sát nhân dân Quận Hai Bà Trưng có quyền kháng nghị trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội có quyền kháng nghị trong hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án.


52
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 36/2017/HNGĐ-ST ngày 21/07/2017 về tranh chấp xin ly hôn

Số hiệu:36/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Hai Bà Trưng - Hà Nội
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:21/07/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về