Bản án 36/2017/HNGĐ-ST ngày 28/07/2017 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 36/2017/HNGĐ-ST NGÀY 28/07/2017 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON 

Ngày 28 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 111/2017/TLST- HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2017 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 49/2017/QĐST-HNGĐ ngày  03 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị G, sinh năm 1973; hộ khẩu thường trú: Số 92, ấp M, xã N, huyện O, tỉnh Bình Dương.

2. Bị đơn: Ông Vũ Khắc H, sinh năm 1966; hộ khẩu thường trú: Số 92, ấp M, xã N, huyện O, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa. Bị đơn vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn xin ly hôn ngày 15/02/2017, biên bản không tiến hành hòa giải được ngày 24/3/2017, ngày 08/5/2017 và tại phiên tòa, nguyên đơn (bà Lê Thị G) thể hiện:

- Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà G và bị đơn ông H chung sống với nhau từ năm 1999, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 44 ngày 02/4/2003 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện D, tỉnh Long An. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, bất đồng trong quan điểm, bị đơn thường xuyên uống rượu, ghen tuông không có lý do và chửi bới, đánh đập nguyên đơn dẫn đến nguyên đơn phải chuyển ra ngoài sinh sống từ tháng 01 năm 2017 đến nay. Vì vậy, nguyên đơn làm đơn xin ly hôn với bị đơn.

- Về con chung: Quá trình chung sống có 01 con chung tên Vũ Kim N, sinh ngày 02/4/2000. Nguyên đơn yêu cầu trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con.

- Vê tài sản chung , nợ chung: Không tranh châp , không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra nguyên đơn không có yêu cầu, tranh chấp gì khác.

* Về phía bị đơn (ông Vũ Khắc H): Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng đã tiến hành đây đu các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự để bị đơn ông H tham gia giải quyết vụ án nhưng bị đơn cố tình vắng mặt không có lý do . Tòa án không thu thập được ý kiến của bị đơn. Quá trình xác minh , bị đơn có đăng ky hô khâu thương tru tại ấp M, xã N, huyện O, tỉnh Bình Dương và vẫn đang sinh sống tại địa phương.

* Đai diên Viên kiêm sat phat biêu tai phiên toa : Quan hệ pháp luật của vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ, tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng đầy đủ, đúng trình tự thủ tục, người tham gia tố tụng đúng thành phần. Phiên tòa được tiến hành đúng trình tự. Tại phiên tòa, phía bi đơn ông H vắng mặt không lý do. Tuy nhiên, trong quá trình tố tụng, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng để bi đơn thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia giải quyết vụ án . Việc vắng mặt của bi đơn ông H là cố tình nên đề nghị xét xử vắng mặt bi đơn theo Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dụng: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà G, giao con chung cho bà G trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, ông H không cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Nguyên đơn bà G và bị đơn ông H chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 44 ngày 02/4/2003 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện D, tỉnh Long An. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, luôn bất đồng trong quan điểm nên đến tháng 01 năm 2017, giữa nguyên đơn và bị đơn đã không sống chung từ đó đến nay. Vì vậy, nguyên đơn làm đơn xin ly hôn với bị đơn. Theo quy định của pháp luật thì vợ chồng có nghĩa vụ phải thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững. Thế nhưng cuộc sống vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn không đạt được những điều đó. Theo biên bản xác minh ngày 17/5/2017 thì giữa nguyên đơn và bị đơn thường xuyên xảy ra mâu thuẫn gây ảnh hưởng đến cuộc sống của những người xung quanh. Toà án đã tiến hành hoà giải và tạo điều kiện cho hai bên một thời gian để hàn gắn tình cảm, nhưng nguyên đơn kiên quyết ly hôn. Bị đơn không tham gia giải quyết, xét xử mặc dù Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng thủ tục luật định nhưng bị đơn đều vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều này cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.

[2] Xét, nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung tên Vũ Kim N, sinh ngày 02/4/2000 và không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con. Hiện con chung đang sống cùng nguyên đơn, Tòa án tham khảo ý kiến của con chung tại bản tự khai và tại biên bản làm việc ngày 08/3/2017, con đều có nguyện vọng chung sống với nguyên đơn. Đây là ý chí tự nguyện của con chung, phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Xét nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét

[5] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 235, 266, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Căn cứ vào các Điêu 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Căn cứ vào điểm a Khoản 5 Điêu 27 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị G đối với ông Vũ Khắc H về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị G được ly hôn với ông Vũ Khắc H.

1.2. Về con chung: Giao cho bà Lê Thị G trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung tên Vũ Kim N, sinh ngày 02/4/2000. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lê Thị G không yêu cầu ông Vũ Khắc H cấp dưỡng nuôi con.

Bà Lê Thị G và ông Vũ Khắc H đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con theo quy định của pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì người được trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

1.3. Tài sản chung, nợ chung: Không tranh châp nên không xem xét.

2. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Lê Thị G chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) và được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2016/0004945 ngày 01 tháng 3 năm 2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28/7/2017).

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.


42
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 36/2017/HNGĐ-ST ngày 28/07/2017 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu: 36/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Dầu Tiếng - Bình Dương
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 28/07/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về