Bản án 36/2018/HS-PT ngày 23/05/2018 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 36/2018/HS-PT NGÀY 23/05/2018 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 23/5/2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý 39/2018/TLPT-HS ngày 18 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo Triệu Văn X do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm 17/2018/HS-ST ngày 14 tháng 3 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.

- Bị cáo bị kháng cáo: Triệu Văn X, sinh ngày 25 tháng 10 năm 1983 tại huyện H, tỉnh Lạng Sơn.

Nơi cư trú: Thôn R, xã C, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Văn M (đã chết) và bà Triệu Thị C1, sinh năm 1954; vợ: Hoàng Thị Y, sinh năm 1988; con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Tại bản ánsố 28/2008/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2008 bị Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng về tội cố ý gây thương tích; ngày 30 tháng 9 năm 2012 chấp hành xong bản án. Tại quyết định số 02, ngày 10 tháng 6 năm 2016 của Ban công an xã Cai Kinh, huyện Hữu Lũng xử phạt đối với Triệu Văn X 200.000 đồng về hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác, ngày 10 tháng 7 năm 2016 chấp hành xong; bị cáo bị bắt từ ngày 24 tháng 11 năm 2017 đến nay đang giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

- Bị hại có kháng cáo: Anh Trương Văn V, sinh năm 1984;  địa chỉ: Thôn R, xã C, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 18 tháng 11 năm 2017, Triệu Văn X điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12X1- 01106 mang theo một chiếc máy phát cỏ đi từ nhà lên khu đồi của gia đình Triệu Văn X ở thôn R, xã C, huyện H, tỉnh Lạng Sơn để phát cỏ. Đến nơi, Triệu Văn X thấy Trương Thị T, sinh năm 1974 đang thuê Chu Văn H, sinh năm 1986 đều là người cùng thôn R, xã C xúc đất ở phần đồi của gia đình sát với ranh giới phần đồi của nhà Triệu Văn X nên Triệu Văn X không đồng ý, giữa Triệu Văn X và Trương Thị T xảy ra tranh cãi. Lúc này có Trương Văn V, sinh năm 1984, trú tại thôn R, xã C là em trai của Trương Thị T đi đến, Triệu Văn X tiếp tục tranh cãi với Trương Văn V về việc Trương Thị T cho xúc đất giáp ranh đất nhà Triệu Văn X. Sau đó Triệu Văn X và Trương Văn V nhặt đất ném về phía nhau nhưng không trúng, Triệu Văn X nhặt được một đoạn gậy dài 1,91m bằng thân cây khô đập một nhát trúng vào lưng của Trương Văn V làm gậy bị gãy thành hai đoạn. Triệu Văn X cầm đoạn gậy còn lại trên tay đi xuống phía chân dốc khoảng 06m thì vứt bỏ đoạn gậy lại rồi điều khiển xe mô tô về nhà lấy một con dao loại dao quắm có tra cán gỗ dài 83cm quay lại khu đồi. Trương Thị T lấy điện thoại di động gọi cho Trương Minh K, sinh năm 1986 là em trai của Trương Thị T và Trương Văn V, ở cùng thôn rồi đưa cho Trương Văn V nói chuyện, báo cho Trương Minh K biết việc cãi nhau với Triệu Văn X và bị Triệu Văn X đánh.

Triệu Văn X sau khi về nhà lấy được dao quắm tra cán gỗ đã để xe mô tô ở chân đồi, cầm dao đi lên chỗ Trương Văn V tiếp tục cãi vã thì Trương Minh K cũng đi đến. Giữa Trương Minh K và Triệu Văn X tiếp tục xảy ra tranh cãi. Trương Minh K nhặt được một đoạn gậy dài 1,94m định lao vào đánh Triệu Văn X đang cầm dao bằng tay phải đứng ở phía trên sườn đồi cách Trương Minh K khoảng 01m thì bị Trương Văn V ôm giữ lại từ phía sau. Triệu Văn X cầm dao giơ lên cao chạy đến định chém Trương Minh K thì Trương Văn V bị trượt chân làm Trương Văn V và Trương Minh K bị ngã, hai tay của Trương Văn V chống xuống đất nên dao của Triệu Văn X chém trúng vào 1/3 dưới mặt sau cánh tay phải của Trương Văn V. Triệu Văn X cầm dao bỏ chạy xuống chân đồi, Trương Minh K cầm gậy đuổi theo Triệu Văn X nhưng không kịp nên Trương Minh K quay lại cùng mọi người đưa Trương Văn V đến Trung tâm y tế huyện H cấp cứu sau đó Trương Văn V được chuyển đến bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang điều trị đến ngày 04 tháng 12 năm 2017 thì được ra viện.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 8022/17/TgT ngày22 tháng 11 năm 2017 của Trung tâm Pháp y tỉnh Bắc Giang kết luận tỷ lệ tổnthương cơ thể do thương tích gây nên của Trương Văn V tại thời điểm giám định là 15%. Sau khi được thông báo, Trương Văn V không đồng ý với kết luận giám định của Trung tâm Pháp y tỉnh Bắc Giang vì cho rằng mức tổn hại sức khỏe như vậy là thấp và yêu cầu được giám định lại. Ngày 27 tháng 12 năm 2017, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hữu Lũng quyết định trưng cầu giám định lại tỷ lệ tổn hại phần trăm sức khỏe do thương tích gây nên đối vớiTrương Văn V.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 79/18/TgT ngày 18 tháng 01 năm 2018 của Viện Pháp y quốc gia kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Trương Văn V là 21%.

Với hành vi nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2018/HS-ST ngày 14/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đã tuyên bố bịcáo Triệu Văn X phạm Tội cố ý gây thương tích.

Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 2 Điều 104, các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, các Điều 33, 45 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; Nghị quyết 41/2017/QH14, ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7 và khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 42 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 xử phạt bị cáo Triệu Văn X 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24 tháng 11 năm 2017.

Về trách nhiệm dân sự: Xử buộc bị cáo Triệu Văn X phải bồi thường thương tích cho anh Trương Văn V tổng số tiền là 35.509.700 đồng.

Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định ngày 19/3/2018 bị hại Trương Văn V có đơn kháng cáo đề nghị tăng mức hình phạt và tăng mức bồi thường lên 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).

Tại phiên tòa anh Trương Văn V giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên thể hiện như sau:

Bị hại Trương Văn V kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo Triệu Văn X. Tại phiên tòa bị hại Trương Văn V không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ mới. Bản án sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và xử phạt bị cáo Triệu Văn X 24 tháng tù giam là phù hợp với tính chất mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, nên không có căn cứ để tăng hình phạt đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên mức hình phạt của bản án hình sự sơ thẩm đã tuyên.

Về yêu cầu tăng mức bồi thường thiệt hại xét thấy yêu cầu đòi bồi thường của bị hại Trương Văn V đưa ra là quá cao, không phù hợp với chi phí thực tế. Tuy nhiên mức bồi thường mà Bản án sơ thẩm tuyên có khoản còn thấp, chưa phù hợp với thương tích mà bị cáo đã gây ra cho anh Trương Văn V. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử tăng các khoản chi phí hợp lý như khoản tiền mất thu nhập do sau khi ra viện chưa lao động được án sơ thẩm chấp nhận15ngày là chưa phù hợp, tăng khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần, bổ sung thêm khoản tiền bồi dưỡng sức khỏe trong thời gian điều trị và sau khi ra viện anhTrương Văn V chưa lao động được.

Với nhận định trên Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự xử sửa Bản án sơ thẩm; chấp nhận một phần kháng cáo của anh Trương Văn V về yêu cầu tăng mức bồi thường, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm.

Trong phần tranh luận anh Trương Văn V yêu cầu xử tăng mức hình phạt và mức bồi thường.Trong lời nói sau cùng bị cáo tỏ ra ăn năn hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giữ nguyên mức hình phạt của Bản án Hình sự sơ thẩm. Về bồi thường đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại, người bào chữa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và phù hợp với lời khai của người bị hại. Do đó có đủ căn cứ xác định: Khoảng 08 giờ ngày 18 tháng 11 năm 2017, tại khu đồi của gia đình Triệu Văn X ở thôn R, xã C, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, giữa Triệu Văn X và Trương Thị T là chị gái của anh Trương Văn V xảy ra tranh cãi về ranh giới đất, Triệu Văn X và anh Trương Văn V nhặt đá ném nhau, sau đó Triệu Văn X lấy một đoạn gậy vụt trúng lưng của anh Trương Văn V rồi bỏ về nhà lấy một con dao quắm quay lại gặp anh Trương Văn V với mục đích ban đầu sẽ chém lại anh Trương Văn V nếu hai bên còn tiếp tục tranh cãi. Khi Triệu Văn X đến nơi, tiếp tục cãi nhau với anh Trương Văn V thì có anh Trương Minh K em trai của anh Trương Văn V đến tranh cãi với Triệu Văn X. Anh Trương Minh K nhặt một đoạn gậy định lao đến đánh Triệu Văn X thì được anh Trương Văn V ôm giữ lại từ phía sau, Triệu Văn X cầm dao bên tay phải dơ lên để chém lại anh Trương Minh K. Do trượt chân nên anh Trương Văn V và anh Trương Minh K bị ngã, tay của anh Trương Văn V chống xuống đất và bị Triệu Văn X chém vào 1/3 dưới mặt sau cánh tay phải gây thương tích cho anh Trương Văn V, tổn hại21% sức khỏe. Do đó Bản án hình sự sơ thẩm đã quy kết bị cáo phạm Tội cố ý gây thương tích là có căn cứ đúng người, đúng tội không oan.

[2] Xét kháng cáo của bị hại Trương Văn V đề nghị tăng mức hình phạt tù thấy rằng: Hành vi dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho người khác của bị cáo mang tính chất côn đồ, coi thường pháp luật, xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo hộ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương, gây dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân. Bản án sơ thẩm đã xem xét đánh giá đúng tính chất vụ án, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, xem xét áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại cho người bị hại do đó Bản án sơ thẩm đã ấn định mức hình phạt đối với bị cáo Triệu Văn X 02 (hai) năm tù là phù hợp với quy định của pháp luật, đảm báo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa anh Trương Văn V cũng không đưa ra được những căn cứ làm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Triệu Văn X. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, không chấp nhận ý kiến của người bị hại về yêu cầu xử tăng mức hình phạt.

[3] Về yêu cầu tăng mức bồi thường dân sự. Tại phiên tòa anh Trương Văn V yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho anh với số tiền là 106.000.000 đồng (một trăm linh sáu triệu đồng).

[4] Trong đó: Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận các khoản sau: [5] - Tiền viện phí thuốc men có hóa đơn là: 1.709.700 đồng

[6] - Tiền mất thu nhập của bị hại và người phục vụ trong thời gian nằm viện là 17 ngày x 200.000 đồng/ngày/người là 3.400.000 đồng x2 = 6.800.000 đồng

[7] - Mất thu nhập của người bị hại trong thời gian sau ra viện chưa laođộng được là 15 ngày x  200.000 đồng 3.000.000 đồng.

[8] - Tiền thuê xe đi điều trị, giám định, tái khám là 4.500.000 đồng.

[9] - Tiền bồi thường tổn thất tinh thần là 15 tháng lương cơ bản 15 x 1.300.000 đồng = 19.500.000đồng. 

[10] Tại phiên tòa anh TrươngVăn V yêu cầu bị cáo phải bồi thường tổn thất về tinh thần tương đương với 30 tháng lương cơ bản là 39.000.000 đồng; Bồi dưỡng sức khỏe trong thời gian 06 tháng là18.000.000 đồng; tiền mất thu nhập sau khi ra viện là 06 tháng không lao động được là 36.000.000 đồng. Tiền thuê xe đi điều trị giám định và tái khám là 4.500.000 đồng và tiền thuê xe cho người thân đến thăm hỏi động viên hàng ngày (17 lượt x 500.000 đồng/ lượt): 8.500.000 đồng. Bị cáo cho rằng yêu cầu đòi bồi thường của anh Trương Văn V là quá cao. Bị cáo chỉ chấp nhận bồi thường thêm cho anh Vinh là 10.000.000 đồng.

[11] Thấy rằng; Tại phiên tòa các bên không thỏa thuận được với nhau về mức bồi thường dân sự. Anh Trương Văn V yêu cầu được bồi thường106.000.000 đồng là quá cao, không phù hợp với chi phí thực tế và quy định của pháp luật. Còn bị cáo Triệu Văn X chấp nhận bồi thường thêm ngoài các khoản Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là 10.000.000 đồng cũng là còn thấp. Hội đồng xét xử thấy rằng; Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét buộc bị cáo phải bồi thường cho bịhại tổng các khoản là 35.509.700 đồng, là chưa xem xét đầy đủ tính chất, mức độ hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra cho bị hại. Bản án sơ thẩm không chấp nhận khoản tiền bồi dưỡng, phục hồi sức khỏa của người bị hại là chưa phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 584 và điểm a khoản 1 Điều 590 của Bộ luật Dân sự. Mặt khác do anh Trương Văn V bị chém vào tay phải là tay thuận, bị gẫy 1/3 dưới xương cánh tay phải với tỷ lệ thương tích 21% , Anh Trương Văn V phải mổ phẫu thuật và điều trị tại bệnh viện 17 ngày. Khi ra viện Bác sỹ chỉ định tái khám sau 2 tuần, điều đó cho thấy sau ra viện và sau tái khám anh Trương Văn V vẫn chưa thể lao động được do đó có căn cứ chấp nhận bồi thường đối với các khoản chi phí sau:

[12] Chi phí chữa trị, tái khám (có hóa đơn) 1.709.700 đồng; tiền công mất thu nhập của người bị hại và người phục vụ trong thời gia điều trị 17 ngày điều trị (từ ngày 18 tháng 11 năm 2017 đến ngày 04 tháng 12 năm 2017) x200.000 đ/ngày/người là 3.400.000 đồng x 2 =6.800.000 đồng, Bị hại bịthương tích tại tay phải, sau khi ra viện phải tái khám và chưa lao động được, do đó có căn cứ chấp nhận yêu cầu bồi thường tiền mất thu nhập của anh Trương Văn V trong thời gian 04 tháng là 120 ngày x 200.000đ/ 1ngày= 24.000.000 đồng đồng, tiền bồi dưỡng sức khỏe khi nằm viện và sau khi ra viện là 90 ngày x 100.000 đồng/1 ngày = 9.000.000 đồng; tiền thuê xe đi điều trị, giám định và tái khám 4.500.000 đồng có chứng cứ chứng minh. Về khoản tiền bồi thường tổn thất tinh thần, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo phải bồi thường cho anh Trương Văn V tương đương với 15 tháng lương cơ sở là có phần thiệt thòi cho anh Trương Văn V vì trong vụ án này anh Trương Văn V không có lỗi, mục đích anh Trương Văn V ôm Trương Minh K từ phía sau là nhằm ngăn cản không cho em trai của mình đánh nhau với Triệu Văn X, nhưng lại bị Triệu Văn X chém vào tay gẫy 1/3 dưới xương cánh tay phải với tỷ lệ thương tích 21% và phải điều trị tại bệnh viện 17 ngày và sau khi ra viện anh Trương Văn V vẫn chưa thể lao động được, điều đó cho thấy anh Trương Văn V phải chịu sự đau đớn cả về thể xác lẫn tinh thần do hành vi trái pháp luật của bị cáo gây ra. Do vậy cần buộc bị cáo phải bồi thường tổn thất tinh thần cho anh Trương Văn V 20 tháng lương cơ sở tại thời điểm hiện nay 20 tháng x1.300.000 đồng/tháng thành tiền 26.000.000 đồng. Tại cấp phúc thẩm, bị hại xuất trình thêm được 01 hóa đơn dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang với số tiền dịch vụ108.000 đồng nên được chấp nhận. Tổng số tiền bị cáo phải bồi thường cho bị hại là 72.117.700 đồng (Bẩy mươi hai triệu một trăm mười bẩy nghìn, bẩy trăm đồng) Xác nhận gia đình bị cáo đã nộp tiền bồi thường cho anh Trương Văn V số tiền25.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số AA/2015/0003325 ngày 12 tháng 02 năm 2018 và biên lai thu tiền số AA/2015/0003358 ngày 18 tháng 3 năm 2018 và số tiền 10.509.700 đồng tại biên lai số AA/2015/0003336 ngày 02 tháng 4 năm 2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn. Tổng số tiền bị cáo đã nộp là 35.509.700 đồng.

[13] Bị cáo Triệu Văn X còn phải bồi thường tiếp cho anh Trương Văn V số tiền 36.608.000 đồng (Ba mươi sáu triệu sáu trăm linh tám nghìn đồng)

[14] Về án phí: Bị hại không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại cho anh Trương Văn V 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm. Bị cáo phải chịu 2.355.885 đồng (hai triệu ba trăm năm mươi lăm nghìn, tám trăm tám mươi lăm đồng) án phí dân sự có giá ngạch .

[15] Các phần Quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại Trương Văn V, sửa một phần Quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2018/HS-ST ngày 14 tháng 3 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.

Cụ thể: Áp dụng khoản 2 Điều 104, các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, các Điều 33, Điều 42, 45 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; Nghị quyết 41/2017/QH14, ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7 và khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Triệu Văn X 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24 tháng 11 năm 2017.

2. Về dân sự: Áp dụng Điều 357, 468, 584, 585, 586, 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Buộc bị cáo Triệu Văn X phải bồi thường cho anh Trương Văn V số tiền là 72.117.700 đồng (Bẩy mươi hai triệu một trăm mười bẩy nghìn, bẩy trăm đồng). Xác nhận gia đình bị cáo đã bồi thường cho anh Trương Văn V số tiền là 35.509.700 đồng theo các biên lai thu tiền số AA/2015/0003325 ngày 12 tháng 02 năm 2018; biên lai thu tiền số AA/2015/0003358 ngày 18 tháng 3 năm 2018 và biên lai số AA/2015/0003336 ngày 02 tháng 4 năm 2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn. Bị cáo Triệu Văn X còn phải bồi thường tiếp cho anh Trương Văn V số tiền 36.608.000 đồng (Ba mươi sáu triệu sáu trăm linh tám nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm d khoản 2 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Bị hại Trương Văn V không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí phúc thẩm cho bị hại Trương Văn V số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số AA/2012/04660 ngày 26/3/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.

Bị cáo Triệu Văn X phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; và 2.355.885 đồng (hai triệu ba trăm năm mươi lăm nghìn, tám trăm tám mươi lăm đồng) án phí dân sự có giá ngạch. Tổng số tiền án phí bị cáo Triệu Văn X phải chịu là 2.535.885 đồng (Hai triệu năm trăm ba lăm nghìn tám trăm tám lăm đồng).

Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng, án phí không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều  6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (23/5/2018).


81
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về