Bản án 36/2019/HS-ST ngày 27/06/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG – TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 36/2019/HS-ST NGÀY 27/06/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 27 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2019/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2019/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:

Lang Văn H - sinh ngày 09 tháng 9 năm 1991 tại huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Tên gọi khác: không; Nơi cư trú: bản KM, xã MĐ, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lang Văn Nam, sinh năm 1965 và bà Lang Thị T, sinh năm 1970; Vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 06/5/2019 đến ngày 09/5/2019 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Thế Kỷ - Trợ giúp viên thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Người bị hại: Bà Lang Thị T, sinh năm 1970;

Đa chỉ: Bản KM, xã MĐ, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 6 giờ 30 phút ngày 29/4/2019, Lang Văn H sau khi ngủ dậy thì lên cơn ngiện ma túy. Thấy không có ai ở nhà, trong người lại không có tiền nên H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của mẹ mình là bà Lang Thị T. H lục tìm xung quanh giường ngủ của mẹ mình thì thấy trên giá gỗ ở cuối chân giường có 01 chiếc ví màu xám. H mở chiếc ví ra để kiểm tra thấy bên trong không có tiền mà chỉ thấy có 01 chiếc thẻ ATM của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, mặt trước của chiếc thẻ có màu xanh và có tên mẹ của H là bà Lang Thị T, mặt sau của chiếc thẻ có màu đỏ. Lúc này, H cầm lấy chiếc thẻ với mục đích là rút trộm tiền trong thẻ, còn chiếc ví, H để lại vị trí ban đầu. Sau đó, H mang theo chiếc thẻ và lấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave S màu đen, biển kiểm soát 37C1-02126 của gia đình điều khiển đi ra cây ATM của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Tây Nghệ An ở Khối 3, Thị trấn Con Cuông, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An để rút tiền. Khoảng 8 giờ 10 phút cùng ngày ( ngày 29/4/2019), H cầm chiếc thẻ ATM đút vào cây rút tiền và nhấn mật khẩu 651970 (theo ngày tháng năm sinh của mẹ H), tuy nhiên hai lần đầu do H nhấn số mật khẩu nhanh nên không đúng, lần thứ ba, H nhấn đúng số mật khẩu 651970, nên thẻ mở ra, H chọn ngôn ngữ tiếng Việt rồi nhấn nút chọn số tiền rút là 2.000.000 đồng nhưng máy báo lỗi không rút được. Lúc này, H lấy thẻ ra và thực hiện lệnh rút tiền lại, H nhấn rút 1.000.000 đồng thì máy nhả ra số tiền 1.000.000 đồng, gồm 01 tờ tiền có mệnh giá 500.000 đồng, 02 tờ tiền có mệnh giá 200.000 đồng và 01 tờ tiền có mệnh giá 100.000 đồng. H cầm lấy tiền rồi tiếp tục lựa chọn rút tiếp số tiền 1.000.000 đồng thì máy nhả ra số tiền 1.000.000 đồng giống như lần trước. Tổng số tiền H rút được là 2.000.000 đồng. Sau khi rút được tiền xong, H cầm lấy tiền và chiếc thẻ ATM bỏ vào túi quần của mình và điều khiển xe mô tô đi về nhà. Về đến nhà, H bỏ chiếc thẻ ATM vào chiếc ví của bà Tuất như ban đầu, rồi điều khiển xe mô tô đi lên đỉnh dốc Pù Huột, thuộc xã Nga My, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An gặp và mua ma túy của một người đàn ông không quen biết với số tiền 700.000 đồng và sử dụng hết số ma túy vừa mua được, số tiền còn lại H tiêu xài cá nhân hết. Đến chiều tối ngày 29/04/2019, H điều khiển xe mô tô về nhà ngủ.

Ngày 30/4/2019, bà Lang Thị T đã có đơn trình báo Công an huyện Con Cuông về việc bị mất trộm tài sản.

Ngày 6/5/2019, nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên H đã đến Uỷ ban nhân dân xã Mậu Đức, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An để đầu thú về hành vi phạm tội của mình.

Ngày 07/05/2019, Cơ quan CSĐT Công an huyện Con Cuông tiến hành khám nghiệm hiện trường vụ án trộm cắp tài sản trên. Qúa trình khám nghiệm không thu giữ gì thêm.

Cùng ngày 07/05/2019, Cơ quan CSĐT Công an huyện Con Cuông tiến hành thu giữ 01 USB của do H giao nộp trong đó có lưu trữ đoạn video quay quá trình H rút trộm tiền trong tài khoản số 3616.2050.93110 của bà Lang Thị T vào ngày 29/04/2019 và 30/4/2019.

Về vật chứng vụ án: 01 chiếc thẻ ATM của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn mang tên Lang Thị T, hiện Cơ quan CSĐT Công an huyện Con Cuông đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Lang Thị T. 01 USB nhãn hiệu SanDick, màu đỏ, dung lượng 8GB sao lưu video quá trình H rút trộm tiền tại cây ATM của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh huyện Con Cuông, ở khối 3 Thị trấn Con Cuông, huyện Con Cuông tỉnh Nghệ An vào ngày 29/04/2019 và 30/4/2019 đã được Cơ quan CSĐT Công an huyện Con Cuông chuyển giao cho Viện kiểm sát kèm theo hồ sơ vụ án.

Về phần dân sự: bà Lang Thị T không có yêu cầu gì.

Cáo trạng số: 35/CT-VKS-CC ngày 27/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông đã truy tố bị cáo Lang Văn H về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố. Tỏ ra ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa: Đồng ý với bản luận tội của Viện kiểm sát nhưng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, nhận thức về pháp luật còn hạn chế, hiện nay bị cáo đang bị bệnh viêm gan C, phạm phạn tội do nghiện ma túy; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử đề nghị: giữ nguyên việc truy tố bị cáo Lang Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự; Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là từ 12 đến 18 tháng; miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo; bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

- Trong quá trình điều tra: Cơ quan điều tra, Điều tra viên được phân công điều tra đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng về việc kiểm tra, xác minh, thu thập chứng cứ, lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm; lập hồ sơ vụ án; hỏi cung bị can; xử lý vật chứng; giao nhận các văn bản tố tụng đúng thời hạn theo quy định của pháp luật.

- Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện nghiêm túc hoạt động kiểm sát điều tra; giao nhận các văn bản tố tụng đúng thời hạn theo quy định của pháp luật; tham gia phiên tòa đúng thời gian, địa điểm; công bố bản cáo trạng; tham gia xét hỏi, luận tội, tranh luận và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án đồng thời thực hiện việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án cũng như người tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử.

- Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Do các hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên và Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đều tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên hợp pháp và được sử dụng làm chứng cứ để Hội đồng xét xử xem xét.

[2] Về nội dung: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lang Văn H đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại về thời gian, địa điểm, diễn biễn hành vi phạm tội. Phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 6 giờ 30 phút, ngày 29/04/2019, tại bản KM, xã MĐ, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, Lang Văn H đã có hành vi lợi dụng sự sở hở của chủ sở hữu, lén lút lấy có 01 chiếc thẻ ATM có số tài khoản 3616.2050.93110 của bà Lang Thị T, sau đó mang đi rút số tiền 2.000.000 đồng để đi mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân. Hành vi mà bị cáo thực hiện là lén lút, lợi dụng sơ hở của người bị hại để chiếm đoạt tài sản. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý. Như vậy Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết tội H phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

[3] Xét tính chất vụ án: Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo ý thức được hành vi của mình là trái pháp luật, nhưng do lười lao động, hám lợi bất chính và để có tiền mua ma túy sử và tiêu xài bị cáo đã ngang nhiên trộm cắp tài sản của chính mẹ đẻ của mình để thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Điều đó chứng tỏ bị cáo là người liều lĩnh và coi thường pháp luật nên cần phải xử lý nghiêm để có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã ra đầu thú. Nên xét thấy cần giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Như vậy, bị cáo nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên xét thấy chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án cũng đủ để răn đe giáo dục bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo chưa có vợ con, sống phụ thuộc vào bố mẹ, tài sản riêng không có nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

Qúa trình điều tra xác định được ngoài lần phạm tội trên thì ngày 30/04/2019, H còn có hành vi tiếp tục lấy trộm thẻ ATM của bà Lang Thị T đi rút số tiền 300.000 đồng tiêu xài cá nhân. Xét thấy đây là hành vi trộm cắp này độc lập, không liên tục về mặt thời gian với lần trộm cắp ngày 29/4/2019 và tài sản trộm cắp dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự, nên cơ quan Cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự mà xử lý vi phạm hành chính đối với H là đúng quy định của pháp luật.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, người bị hại bà Lang Thị T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nên miễn xét.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Lang Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lang Văn H 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/6/2019.

Giao bị cáo Lang Văn H cho chính quyền địa phương UBND xã Mậu Đức, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng khoản 1 điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Lang Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.


10
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 36/2019/HS-ST ngày 27/06/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:36/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Con Cuông - Nghệ An
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 27/06/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về