Bản án 37/2017/HNGĐ-ST ngày 07/09/2017 về tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN

BẢN ÁN 37/2017/HNGĐ-ST NGÀY 07/09/2017 VỀ TRANH CHÁP LY HÔN, NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 07 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án Nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 83/2017/TLST-HNGĐ ngày 26/4/2017 về việc "ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2017/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 8 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Bích T - sinh năm: 1988.

Trú tại: thôn V H – xã V H – Ninh Hải – Ninh Thuận; có mặt.

- Bị đơn: Anh Phạm Mạnh T - sinh năm: 1982.

Trú tại: thôn V H – xã V H – Ninh Hải – Ninh Thuận; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn ngày 26/4/2017, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Trần Thị Bích T trình bày: Chị và anh Phạm Mạnh T tiến đến hôn nhân hoàn toàn tự nguyện và được Ủy ban Nhân dân xã V H cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 15/8/2013. Vợ chồng có 01 người con chung là cháu Phạm Ngọc Xuân T – sinh ngày 18/11/2013. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh T không lo làm ăn tụ tập bạn bè ăn nhậu, chơi cờ bạc, chị có khuyên bảo nhiều lần nhưng anh T không nghe dẫn đến vợ chồng hay xảy ra cãi vã nhau rồi anh T đập phá đồ đạc trong nhà. Chị và anh T đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay, không còn quan tâm chăm sóc nhau. Vì tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T, đồng thời yêu cầu được trực tiếp nuôi một người con chung là cháu Phạm Ngọc Xuân T và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 26/4/2017, Tòa án ban hành Thông báo về việc thụ lý vụ án và đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn là anh Phạm Mạnh T biết. Thông báo có ghi rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (xin ly hôn và yêu cầu được nuôi 01 người con chung là cháu Phạm Ngọc Xuân T), chứng cứ kèm theo là Giấy chứng nhận kết hôn, giấy khai sinh cháu T. Tuy nhiên anh Phạm Mạnh T không có ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn và cũng không có ý kiến về các chứng cứ do chị T cung cấp. Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo hai lần về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết đinh đưa vụ án ra xét xử ngày 09/8/2017 và Quyết định hoãn phiên tòa ngày 24/8/2017, anh Phạm Mạnh T vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị Bích T và anh Phạm Mạnh T được xác lập trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng có 01 người con chung là cháu Phạm Ngọc Xuân T – sinh ngày 18/11/2013. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh T không lo làm ăn, không quan tâm và không có trách nhiệm với cuộc sống chung của vợ chồng. Chị T có khuyên bảo nhiều lần nhưng anh T không nghe dẫn đến vợ chồng thường xảy ra cãi vã nhau rồi anh T đập phá đồ đạc trong nhà nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay, không còn quan tâm chăm sóc nhau.

Ban quản lý thôn nơi vợ chồng cư trú xác nhận chị T, anh T trước đây khi còn sống chung luôn bất đồng xảy ra cãi vã nhau rồi anh T đập phá đồ đạc trong nhà, vợ chồng không có trách nhiệm quan tâm chăm sóc nhau và hiện hai người đã sống ly thân từ tháng 5/2016.

[3] Hội đồng xét xử nhận thấy thực tế chị T và anh T không còn quan tâm, chăm sóc nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh T.

Về con chung: Chị T có yêu cầu xin được nuôi 01 người con chung là cháu Phạm Ngọc Xuân T. Xét thấy thực tế hiện nay công việc làm và thu nhập của chị T ổn định. Cháu T hiện đang sống với chị T, được mẹ chăm sóc tốt. Để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cũng như sự phát triển bình thường về thể chất, tinh thần cho cháu vì vậy nên giao cháu T cho chị T có quyền và nghĩa vụ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị T không yêu cầu. Tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết .

[4] Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Chị T và anh T tiến đến hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh T không lo làm ăn, chơi cờ bạc, rồi vợ chồng hay xảy ra cãi vã nhau, còn đập phá đồ đạc trong nhà. Như vậy anh T đã vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Xét thấy yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Bích T là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T với anh T. Về con chung: Vợ chồng có một người con chung là cháu Phạm Ngọc Xuân T sinh ngày 18/11/2013, chị T có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu T, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung do đó nên giao cháu T cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử luôn tuân theo pháp luật tố tụng và người tham gia tố tụng dân sự là nguyên đơn luôn chấp hành pháp luật. Riêng bị đơn vắng mặt nhưng Tòa án đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định và xét xử vắng mặt bị đơn là đúng pháp luật.

[5] Xét quan điểm của Kiểm sát viên về quan hệ hôn nhân của chị T, anh T cũng như việc giải quyết con chung đều có căn cứ phù hợp các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Chị Trần Thị Bích T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu xin ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;  khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Trần Thị Bích T đối với bị đơn là anh Phạm Mạnh T.

- Về hôn nhân: Chị Trần Thị Bích T được ly hôn với anh Phạm Mạnh T.

- Về con chung: Chị Trần Thị Bích T có quyền và nghĩa vụ trực tiếp nuôi 01 người con chung là cháu Phạm Ngọc Xuân T – sinh ngày 18/11/2013. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị T cùng các thành viên trong gia đình không ai được cản trở anh T trong  việcthăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

- Về án phí: Chị Trần Thị Bích T phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai số 0011850 ngày 26/4/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Hải.

Án xử sơ thẩm có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 07/9/2017); đối với bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án.


49
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 37/2017/HNGĐ-ST ngày 07/09/2017 về tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn

Số hiệu:37/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Ninh Hải - Ninh Thuận
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:07/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về