Bản án 37/2017/HSST ngày 05/07/2017 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN, TỈNH HƯNG YÊN

BẢN ÁN 37/2017/HSST NGÀY 05/07/2017 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 05/7/2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2017/HSST ngày 15/6/2017, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2017/QĐXX, ngày 21/6/2017 đối với bị cáo: Họ và tên: Hoàng Thế V – Sinh năm 1992.

NKTT: số 330 đường N, phường A, thành phố H, tỉnh Hưng Yên.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Con ông Hoàng Văn M - sinh năm 1968 và con bà Phạm Thị H - Sinh năm 1972.

Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con lớn trong gia đình.

Bị cáo có vợ là Luyện Thị T, sinh năm 1994; bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2016.

Tiền án: Chưa có.

Tiền sự: Ngày 22/02/2017 bị công an huyện C, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/4/2017. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố H. (Bị cáo có mặt)

*Người bị hại: Anh Phạm Thành T – Sinh năm 1969.

Trú tại: số 21 đường A, phường A, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. ( Vắng mặt)

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1973.

Trú tại: số 21 đường A, phường A, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. ( Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 02/4/2017 Hoàng Thế V, sinh năm 1992, NKTT: số 330 đường N, phường A, thành phố H, tỉnh Hưng Yên đi đến nhà anh Phạm Trung T, sinh năm 1969. Trú tại: 21 đường A, phường A, thành phố H, tỉnh Hưng Yên là cậu ruột của V để chơi với bà Trịnh Thị T, sinh năm 1946 ( Bà T là mẹ đẻ anh T, là bà ngoại của bị cáo V). Khi V đi đến nhà anh T chỉ có bà T ở nhà, trong khi bà T đang nấu cơm thì V đi lên tầng 2 vào phòng ngủ của vợ chồng anh T, V nhìn thấy 01 con lợn bằng sứ, màu vàng có hình hoa văn bên ngoài được để trên nóc tủ cạnh chiếc ti vi, V đoán con lợn đựng tiền tiết kiệm của vợ chồng anh T, do thiếu tiền tiêu sài cá nhân nên V đã nẩy sinh ý định trộm cắp số tiền trong con lợn. V quan sát xung quanh thấy có chiếc kéo, loại dùng để cắt chỉ thông thường đặt cạnh con lợn, V đã dùng kéo khoét một chiếc lỗ ở phần bụng con lợn ra và lấy toàn bộ số tiền có trong con lợn là 6.500.000 đồng rồi mang đi tiêu sài cá nhân hết.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 chiếc kéo loại cắt chỉ; 01 con lợn làm bằng sứ màu vàng, có hình hoa văn bên ngoài.

Ngày 30/3/2017 cơ quan CSĐT Công an thành phố H đã trao trả 01 chiếc kéo và 01 con lợn sứ trên cho chủ sở hữu là anh Phạm Thành T, anh T đã nhận lại tài sản và không có đề nghị gì khác. Đối với số tiền 6.500.000 đồng V trộm cắp của anh T, anh T không yêu cầu V trả lại số tiền này.

Quá trình điều tra Hoàng Thế V đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số: 43/QĐ - VKS, ngày 13/6/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H đã truy tố bị cáo Hoàng Thế V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 138 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay:

Bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, tỏ ra ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Hoàng Thế V phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng: khoản 1 điều 138; điểm h,p khoản 1, khoản 2 điều 46; điều 33 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm tù và đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định và không có tài sản riêng. Đối với vật chứng vụ án là 01 chiếc kéo loại cắt chỉ; 01 con lợn làm bằng sứ màu vàng, có hình hoa văn bên ngoài đã trả lại cho chủ sở hữu, chủ sở hữu là anh Phạm Thành T đã nhận lại tài sản và không đề nghị gì nên không đặt ra xem xét.

Về trách nhiệm dân sự:Người bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không đặt ra xem xét.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các qui định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay hoàn toàn phù hợp khách quan với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập được như: Đơn trình báo của người bị hại ( BL: 31); đơn xin đầu thú (BL: 51), bản kiểm điểm, bản tự khai (BL: 53 -56), biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can Hoàng Thế V (BL: 59-66), lời khai của người bị hại ( BL: 33-40); lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ( BL: 41-46); lời khai của người làm chứng (BL 47-50); Biên bản, sơ đồ xác định lại hiện trường ( BL 25 - 27) và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ, ngày 02/4/2017. Tại nhà anh Phạm Thành T ở số 21 đường A, phường A, thành phố H, tỉnh Hưng Yên, Hoàng Thế V lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu đã có hành vi dùng kéo cắt chỉ khoét 01 lỗ ở phần bụng của con lợn làm bằng sứ, màu vàng có hình hoa văn bên ngoài mà vợ chồng anh T dùng đựng tiền tiết kiệm để trên kệ cạnh chiếc ti vi trên tầng 02, lấy đi số tiền 6.500.000 đồng bên trong con lợn sứ. Hành vi của Hoàng Thế V đã có đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản được quy định tại khoản 1 điều 138 Bộ luật hình sự. Việc Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo với tội danh “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, bị cáo lợi dụng sự sơ hở của người thân quen trong gia đình đã một mình cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản giữa ban ngày nên bị cáo phải chịu trách nhiệm toàn bộ đối với hành vi của bị cáo gây ra. Bị cáo là người đã trưởng thành, có sức khỏe nhưng ham chơi, lười lao động, bản thân bị cáo đã có một tiền sự (ngày 22/02/2017 bị công an huyện C, thành phố Hà nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy) nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự và tâm lý bất an cho nhân dân địa phương. Điều đó chứng tỏ bị cáo là người coi thường kỷ cương pháp luật. Do đó, cần phải áp dụng một hình phạt nghiên khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, HĐXX thấy : 

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm h, p khoản 1 điều Bộ luật hình sự. Ngoài ra, sau khi phạm tội bị cáo đã đến cơ quan điều tra đầu thú, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 46 BLHS. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo thể hiện sự chính sách khoan hồng của pháp luật hình sự Việt Nam.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập và không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm Dân sự:

Đối với số tiền 6.500.000 đồng mà bị cáo Việt trộm cắp của vợ chồng anh Phạm Thành T, vợ chồng anh Phạm Thành T đã cho bị cáo V, do đó trách nhiệm dân sự trong vụ án này không đặt ra xem xét giải quyết.

Vật chứng của vụ án, gồm: 01 chiếc kéo loại cắt chỉ; 01 con lợn làm bằng sứ màu vàng, có hình hoa văn bên ngoài. Ngày 10/5/2017 Cơ quan điều tra công an thành phố H đã trả lại cho anh T, anh T đã nhận lại tài sản và không đề nghị gì nên không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thế V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 điều 138; điểm h, p khoản 1, khoản 2 điều 46 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Thế V 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 08/4/2017.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của anh Phạm Thành T và chị Nguyễn Thị H không yêu cầu bị cáo V phải hoàn trả số tiền 6.500.000 đồng mà bị cáo V đã trộm cắp.

Về án phí: Bị cáo Hoàng Thế V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo; Vắng mặt người bị hại; vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.


36
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
    Văn bản được căn cứ
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 37/2017/HSST ngày 05/07/2017 về tội trộm cắp tài sản

    Số hiệu:37/2017/HSST
    Cấp xét xử:Sơ thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Hưng Yên - Hưng Yên
    Lĩnh vực:Hình sự
    Ngày ban hành:05/07/2017
    Là nguồn của án lệ
      Bản án/Quyết định sơ thẩm
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về