Bản án 37/2017/HSST ngày 25/08/2017 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG

BẢN ÁN 37/2017/HSST NGÀY 25/08/2017 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH ĐKPTGTĐB

Ngày 25 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2017/TLST-HS, ngày 03 tháng 7 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2017/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn C (tên gọi khác: Q), sinh năm 1988, tại tỉnh Hà Nam; Nơi ĐKHKTT: Thôn 7, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; Nơi cư trú: tổ 3, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hoá: 12/12; con ông Nguyễn Hữu T và bà Trần Thị T; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị D và 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo đang tại ngoại– có mặt.

Bị hại: Anh Nguyễn Thiết Đăng K (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của anh K: Ông Nguyễn Thiết H (bố đẻ)-vắng mặt. Địa chỉ: Tổ 7, phường N, thị xã G, tỉnh Đăk Nông

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Công ty bảo hiểm B– khu vực Tây Nguyên.

Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Văn T-c/v: Phó phòng giám định-bồi thường là người đại diện theo ủy quyền ( Giấy ủy quyền số 208/GUQ/PITN ngày 22/8/2017)-có mặt.

Địa chỉ: 27 Trần Khánh D, phường A, TP. B, tỉnh Đăk Lăk

2. Bà Phạm Thị H-vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn H, xã S, huyện M, tỉnh Đắk Nông

3. Ông Trịnh Văn A-vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn 9, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

4. Ông Phan Huy Đ-vắng mặt.

Địa Chỉ: Thôn 3, xã C, huyện L, tỉnh Đắk Nông.

5. Ông Trần Sỹ N-vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn 10, xã N1, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

Những người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: Anh Lê Sỹ H-vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn 9, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 09/10/2016, Nguyễn Văn C có giấy phép lái xe hạng C, số 790162105337 điều khiển xe ô tô tải của mình hiệu HYUNDAI, biển kiểm soát (BKS) 48C- 032.41 chở hàng thuê cho chị Phạm Thị H đi từ huyện M về thị xã G, tỉnh Đắk Nông để nhập hàng. Trên cabin xe lúc này có Nguyễn Văn C làm tài xế, chị Phạm Thị H và cháu của chị H tên là H1. Trên thùng xe chở 1.823 kg chanh dây. Khi đi đến đoạn đường Quốc lộ 14 tại Km 1877+ 200 thuộc địa phận thôn 10, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông thì Nguyễn Văn C phát hiện xe mô tô hiệu TAURUS màu sơn đỏ đen, BKS: 76H2- 5915 do anh Nguyễn Thiết Đăng K điều khiển đi trên phần đường bên phải của anh K theo hướng ngược lại. Lúc này, C điều khiển xe với tốc độ khoảng 50km/h, xe do C điều khiển ôm cua, cách mép đường bên phải Quốc lộ 14 khoảng 50 cm. Đây là đoạn đường cong cua về bên phải, mặt đường trải nhựa rộng 11m, ở giữa đường có vạch sơn đứt màu vàng theo hướng huyện M- Thị xã G. Khi thấy xe mô tô BKS: 76H2 - 5915 do anh Nguyễn Thiết Đăng K điều khiển đang chạy đến thì Nguyễn Văn C lo sợ xe mô tô của anh K điều khiển sẽ lao vào đầu xe ô tô tải của mình nên C đã đánh lái cho xe chạy sang bên phải theo hướng lưu thông để tránh xe mô tô của anh K rồi trả tay lái cho xe chạy lại sang bên trái. Do không làm chủ tay lái nên C đã điều khiển xe ô tô tải BKS: 48C – 032.41 chạy sang phần đường bên trái Quốc lộ 14 theo chiều đi. Lúc này, phần đầu xe bên trái của xe ô tô tải BKS 48C –032.41 đã tông trúng phần thân xe phía trước bên trái của xe mô tô BKS 76H2 – 5915 làm anh Nguyễn Thiết Đăng K văng ra, ngã xuống phần đất trống bên mép trái QL14. Hậu quả anh K tử vong trên đường đi cấp cứu. Sau khi tông vào xe mô tô do anh K điều khiển, xe ô tô tải BKS: 48C – 032.41 do Nguyễn Văn C điều khiển tiếp tục lao thẳng vào phần đất trước quán nước, tông và cuốn vào gầm, gây hư hỏng chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA FUTURE, BKS: 48B1- 063.84 của ông Trịnh Văn A đang dựng trú mưa trước quán nước, sau đó tiếp tục tông vào dãy quán cà phê, sửa chữa xe máy của anh Trần Sỹ N gây hư hỏng một số tài sản rồi dừng lại.

Quá trình khám nghiệm hiện trường tại km 1877+200 thuộc địa phận thôn 10, xã N1, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông theo chiều hướng huyện M đi thị xã G xác định: chiều rộng mặt đường trải nhựa là 11m, ở giữa đường có vạch sơn không liên tục màu vàng. Theo hướng khám nghiệm đã xác định, phát hiện xe mô tô BKS: 76H2- 5915 nằm ngả nghiêng bên phải, đầu xe hướng về phía huyện M, đuôi xe hướng về Thị xã G. Trục trước và trục sau của xe lần lượt cách mép đường chuẩn là 2m60 và 2m75. Vị trí của xe được đánh số (1) trên sơ đồ hiện trường. Tại trục giữa của xe mô tô BKS: 76H2- 5915 phát hiện một vết cày không liên tục hướng Thị xã G – huyện M kích thước 6m10 x 0,1m. Điểm đầu của vết cách mép đường chuẩn 0,2m. Vị trí dấu vết được đánh số (2) trên sơ đồ hiện trường. Cách điểm đầu của vết số (2) về hướng Thị xã G 3m55 phát hiện vết hằn lốp có hướng huyện M- Thị xã G, kích thước 24m50 x 0,5m. Điểm đầu của vết cách mép đường chuẩn 1m45, điểm cuối của vết nằm ở trục sau bên phải của xe ô tô tải BKS: 48C- 032.41. Vị trí vết được đánh số (5) trên sơ đồ hiện trường. Cách điểm đầu của vết số (5) về hướng mép đường chuẩn 1m45 phát hiện một vết hằn lốp có hướng huyện M- Thị xã G, kích thước 29 x 0,2m. Điểm đầu của vết nằm ngay mép đường chuẩn, điểm cuối của vết nằm ở trục trước bên trái của xe ô tô 48C- 032.41. Vị trí của vết được đánh số (3) trên sơ đồ hiện trường. Cách điểm đầu của vết chà lốp số (3) về hướng Thị xã G 0,35m phát hiện một số mảnh nhựa bị bể vỡ kích thước 0,4x0,35m. Tâm dấu vết cách mép đường chuẩn 0,18m. Vị trí vết được đánh số (4) trên sơ đồ hiện trường. Tại điểm cuối của vết số (4) phát hiện xe ô tô BKS:48C- 032.41, đầu xe hướng về Thị xã G, đuôi xe hướng về huyện M. Trục trước và trục sau bên phải của xe nằm cách mép đường chuẩn lần lượt là 3m60 và 3m90. Vị trí xe ô tô tải được đánh vị trí số (6) trên sơ đồ hiện trường.

Cách trục trước bên phải của xe ô tô tải 48C- 032.41 về hướng Thị xã G 1m phát hiện xe mô tô BKS: 48B1- 063.84 nằm ngiêng bên phải, đầu xe hướng về quán cà phê L, đuôi xe hướng về phía mép đường chuẩn. Trục trước và trục sau của xe lần lượt cách mép đường chuẩn 5m40 và 4m50. Vị trí xe mô tô 48B1- 063.84 được đánh số (7) trên sơ đồ hiện trường.

Từ các dấu vết, vật chứng tại hiện trường xác định điểm va chạm đầu tiên giữa xe ô tô BKS: 48C- 032.41 do Nguyễn Văn C điều khiển với xe mô tô BKS: 76H2 –5915 do anh Nguyễn Thiết Đăng K điều khiển: cách  điểm đầu của vết cày số (2) là 2m30, cách điểm đầu của vết chà số (3) là 1m90, cách mép đường chuẩn 0,7m. Điểm mốc cách trục sau bên trái của xe ô tô tải BKS 48C- 032.41 là 8m30, cách điểm đầu của vết chà số (5) là 21m90. Cách điểm va chạm đầu tiên 22m50. Như vậy: vị trí điểm va chạm đầu tiên cách 0,7m từ mép đường chuẩn vào tim đường theo hướng huyện M

- Thị xã G. Như vậy, Nguyễn Văn C đã điều khiển xe ô tô chạy lấn hoàn toàn sang phần đường bên trái dẫn đến gây tai nạn làm anh Nguyễn Thiết Đăng K tử vong trên đường đi cấp cứu (điểm va chạm cách mép đường bên trái theo chiều đi của xe ô tô do C điều khiển là 0,7m).

Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 305/TT ngày 27 tháng 10 năm 2016 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Đắk Nông kết luận: anh Nguyễn ThiếtĐăng K bị tử vong do suy tuần hoàn cấp, tràn máu  Kng màng phổi trái, tràn máu ổ bụng/ Vỡ gan, dập phổi. 

Tại biên bản giám định an toàn kỹ thuật số: 2701/SGTVT- VT ngày 01 tháng 11 năm 2016 của Sở giao thông vận tải tỉnh Đắk Nông kết luận: Tại thời điểm kiểm tra an toàn kỹ thuật, xe ô tô tải BKS: 48C-032.41 có hệ thống lái: hoạt động bình thường, không phát hiện sự cố kỹ thuật; hệ thống phanh: hoạt động bình thường, không phát hiện sự cố kỹ thuật; lốp xe: đầy đủ, đúng chủng loại, các lốp đều đảm bảo yêu cầu kỹ thuật; hệ thống điện: Đèn phanh bên trái không sáng, không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật.

Tại biên bản định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Đ số 72/HĐ-ĐG ngày 14/11/2016 kết luận: giá trị thiệt hại tại thời điểm 09/10/2016 của chiếc xe mô tôBKS: 76H2-5915 là 1.742.500 đồng; giá trị thiệt hại của  chiếc xe mô tô BKS: 48B1-063.84 là 3.735.000 đồng; giá trị thiệt hại của một ngôi nhà lợp tôn của anh Trần  Sỹ N là 9.404.000 đồng. Tổng giá trị thiệt hại là 14.881.500 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 38/CTr - VKS ngày 30 tháng 6 năm 2017, Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Đ đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” quy định tại khoản 1 Điều 202 của Bộ luật hình sự 1999.

Tại phiên toà, đại diện VKSND huyện Đ giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn C (Quân) về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng: Khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; khoản 1, khoản 2 Điều 60 BLHS-xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 18 tháng đến 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 tháng đến 48 tháng.

Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng Điều 42 BLHS; Điều 605, 610 BLDS đề nghị chấp nhận việc tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại với số tiền 250.000.000 đồng giữa bị cáo Nguyễn Văn C với người đại diện hợp pháp của người bị hại Nguyễn Thiết Đăng K là ông Nguyễn Thiết H; chấp nhận việc thỏa thuận bồi thường thiệt hại với số tiền 10.000.000 đồng giữa bị cáo Nguyễn Văn C với ông Trịnh Văn A; chấp nhận việc thỏa thuận bồi thường thiệt hại với số tiền 16.000.000 đồng giữa bị cáo Nguyễn Văn C với ông Trần Sỹ N.

Về vật chứng của vụ án:

Áp dụng khoản 2 Điều 41 BLHS; điểm b khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ trả lại chiếc xe chiếc xe ô tô hiệu HYUNDAI, biển kiểm soát (BKS) 48C- 032.41 cho Nguyễn Văn C là chủ sở hữu hợp pháp; trả lại 1.823 kg chanh dây cho chị Phạm Thị H là chủ sở hữu hợp pháp; trả lại chiếc xe mô tô hiệu HONDA FUTURE màu xám-đen-vàng, BKS: 48B1- 063.84 cho ông Trịnh Văn A là chủ sở hữu hợp pháp; trả lại chiếc xe TAURUS màu đỏ đen, có BKS: 76H2 – 5915, số khung 143915, số máy: 143915 cho ông Nguyễn Thiết H là người đại diện hợp pháp của bị hại.

Tại phiên toà bị cáo không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình mà chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên toà sơ thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 09/10/2016, Nguyễn Văn C có giấy phép lái xe hạng C số 790162105337 điều khiển xe ô tô tải BKS: 48C- 032.41 lưu thông theo hướng huyện Đ đi thị xã G. Khi đến Km 1877+ 200m thuộc địa phận thôn 10, xã N, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông thì C phát hiện xe mô tô BKS: 76H2- 5915 do anh Nguyễn Thiết Đăng K điều khiển đi đúng phần đường theo hướng ngược lại. Do đoạn đường cong cua, lo sợ xe của anh K sẽ đâm vào xe mình nên C đánh lái cho xe chạy sang bên phải theo hướng lưu thông để tránh xe mô tô. Khi trả lại tay lái cho xe chạy lại sang bên trái bị cáo C không làm chủ tốc độ nên đã điều khiển xe ô tô chạy lấn hoàn toàn sang phần đường bên trái (đã vi phạm khoản 1 điều 9, khoản 1 điều 12, điều 13, điều 17 Luật Giao thông đường bộ) gây tai nạn với xe mô tô do anh Nguyễn Thiết Đăng K điều khiển, sau đó xe tiếp tiếp tục lao vào phần đất trước quán nước, tông và cuốn vào gầm, gây hư hỏng chiếc xe mô tô hiệu HONDA FUTURE, BKS: 48B1- 063.84 của ông Trịnh Văn A và tông vào nhà của anh Trần Sỹ N. Hậu quả làm anh K tử vong, tổng thiệt hại về tài sản là 14.881.500 đồng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn C đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” quy định tại khoản 1 Điều 202 BLHS.

VKSND huyện Đắk Song truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 của BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 202 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. ……..”

[3] Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây thiệt hại đến tính mạng, tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự chung tại địa phương. Bị cáo là người có đủ điều kiện để tham gia giao thông và có khả năng nhận thức về hành vi của mình. Tuy nhiên, khi tham gia giao thông bị cáo đã không tuân thủ các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, không làm chủ tốc độ, đi không đúng làn đường dẫn đến việc gây tai nạn, hậu quả làm 01 người chết và gây thiệt hại về tài sản với tổng số tiền 14.881.500 đồng. Do đó, HĐXX cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt đủ nghiêm minh tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo gây ra mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường, khắc phục toàn bộ hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra cho gia đình người bị hại số tiền 250.000.000 đồng; cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trịnh Văn A với số tiền 10.000.000 đồng; ông Trần Sỹ N với số tiền 16.000.000đ và được gia đình người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 BLHS. HĐXX sẽ áp dụng các tình tiết giảm nhẹ này cho bị cáo khi quyết định hình phạt để thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.

[5] Xét thấy bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội lần đầu do lỗi vô ý, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường, khắc phục toàn bộ hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra cho gia đình người bị hại, đại diện gia đình bị hại và người có quyền, nghĩa vụ liên quan đã có đơn bãi nại cho bị cáo. Bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn tôn trọng các quy tắc xã hội, chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú, không vi phạm các điều mà pháp luật cấm, chưa bao giờ bị kết án, bị xử lý vi phạm hành chính, có nơi cư trú rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 48 BLHS. Do đó, HĐXX xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần cho bị cáo tự học tập, cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[6] Xét đề nghị về mức hình phạt của vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa hôm nay là có cơ sở nên HĐXX chấp nhận.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Đối với việc thỏa thuận bồi thường thiệt hại với số tiền 250.000.000 đồng giữa bị cáo Nguyễn Văn C với người đại diện hợp pháp của người bị hại Nguyễn Thiết Đăng K là ông Nguyễn Thiết H; việc thỏa thuận bồi thường thiệt hại với số tiền 10.000.000 đồng giữa bị cáo với ông Trịnh Văn A; việc thỏa thuận bồi thường thiệt hại với số tiền 16.000.000đ giữa bị cáo với ông Trần Sỹ N là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX cần chấp nhận.

Đối với phần trách nhiệm dân sự giữa Công ty bảo hiểm Bưu điện và bị cáo Nguyễn Văn C, các bên đã tự thỏa thuận giải quyết với nhau và Công ty bảo hiểm Bưu điện không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

[8] Về xử lý vật chứng vụ án: Đối với việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ trả lại chiếc xe chiếc xe ô tô hiệu HYUNDAI, biển kiểm soát (BKS) 48C- 032.41 cho Nguyễn Văn C là chủ sở hữu hợp pháp; trả lại 1.823 kg chanh dây cho chị Phạm Thị H là chủ sở hữu hợp pháp; trả lại chiếc xe mô tô hiệu HONDA FUTURE màu xám- đen-vàng, BKS: 48B1- 063.84 cho ông Trịnh Văn A là chủ sở hữu hợp pháp; trả lại chiếc xe TAURUS màu đỏ đen, có BKS: 76H2 – 5915, số khung 143915, số máy: 143915 cho ông Nguyễn Thiết H-người đại diện theo pháp luật của người bị hại là phù hợp nên cần chấp nhận.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

 [10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C (tên gọi khác: Q) phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; khoản 1, khoản 2 Điều 60 BLHS của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn C (tên gọi khác: Q) 01 (Một) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/8/2017).

Giao bị cáo Nguyễn Văn C (Quân) cho Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 42 BLHS; Điều 605; Điều 608; Điều 610 Bộ luật dân sự năm 2005.

Chấp nhận việc tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại với số tiền 250.000.000đ (Hai trăm năm mươi triệu đồng) giữa bị cáo Nguyễn Văn C với người đại diện hợp pháp của người bị hại Nguyễn Thiết Đăng K là ông Nguyễn Thiết H; chấp nhận việc thỏa thuận bồi thường thiệt hại với số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) giữa bị cáo Nguyễn Văn C với ông Trịnh Văn A; chấp nhận việc thỏa thuận bồi thường thiệt hại với số tiền 16.000.000đ (Mười sáu triệu đồng) giữa bị cáo Nguyễn Văn C với ông Trần Sỹ N. 

Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 2 Điều 41 BLHS; căn cứ điểm b khoản 2 Điều 76 BLTTHS, chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ trả lại chiếc xe chiếc xe ô tô hiệu HYUNDAI, biển kiểm soát (BKS) 48C- 032.41 cho Nguyễn Văn C là chủ sở hữu hợp pháp; trả lại 1.823 kg chanh dây cho chị Phạm Thị H là chủ sở hữu hợp pháp; trả lại chiếc xe mô tô hiệu HONDA FUTURE màu xám-đen-vàng, BKS: 48B1- 063.84 cho ông Trịnh Văn A là chủ sở hữu hợp pháp; trả lại chiếc xe TAURUS màu đỏ đen, có BKS: 76H2 – 5915, số khung 143915, số máy: 143915 cho ông Nguyễn Thiết H là người đại diện theo pháp luật của người bị hại.

Về án phí: Áp dụng Điều 98; Điều 99 BLTTHS; Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 về Án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần liên quan đến quyền và lợi ích của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần liên quan đến quyền và lợi ích của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.


71
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 37/2017/HSST ngày 25/08/2017 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

Số hiệu:37/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đắk Song - Đăk Nông
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:25/08/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về