Bản án 37/2017/HSST ngày 27/07/2017 về tội vận chuyển trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 37/2017/HSST NGÀY 27/07/2017 VỀ TỘI VẬN CHUYỂN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Hôm nay, ngày 27 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 32/2017/HSST ngày 31 tháng 5 năm 2017 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Cơ T, sinh năm 1989; Nơi ĐKHKTT: xóm 8, xã A, huyện B, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1959 và bà Phạm Thị C, sinh năm 1962; Gia đình có 2 anh em, bị cáo là út.

Nhân thân:

+ Bản án số: 54/2010/HSST ngày 18/8/2010, Tòa án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng xử phạt T 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Bản án số: 166/2012/HSST ngày 06/12/2012, Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bắc Ninh xử phạt T 30 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2016. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại phiên tòa.

2. Ngô Dương Minh P, sinh năm 1987; Nơi ĐKHKTT: khu phố E, phường F, thị xã G, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12;

Con ông Ngô Thanh M, sinh năm 1959 và bà Dương Hồng N, sinh năm 1964. Gia đình có 3 anh em, bị cáo là thứ 2. Có vợ là Dương Thúy Q, sinh năm 1988. Bị cáo có hai con: lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2012. Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2016. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Cơ T: Ông Nguyễn Văn K1, luật sư Văn phòng luật sư Nguyễn Văn K1 - Đoàn luật sư tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Tất Q1, sinh năm 1966. Trú tại: khu phố T1, phường J, thị xã G, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.

NHẬN THẤY

Các bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 15 giờ 55 phút ngày 22/12/2016, tại khu 3, Cẩm Giang, phường Đồng Nguyên, thị xã G, tỉnh Bắc Ninh, Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC47) - Công an tỉnh Bắc Ninh phối hợp với Công an thị xã G và Công an phường Đồng Nguyên bắt quả tang Nguyễn Cơ T đang thực hiện hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy và Ngô Dương Minh P đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm:

- Tại túi áo khoác phía trong bên trái T đang mặc 01 túi nilon màu đen bên trong có 04 túi nilon màu trắng, bên trong 04 túi nilon đều chứa các chất tinh thể màu trắng.

- Tại túi áo khoác phía trước bên phải T đang mặc 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa các viên nén hình tròn màu trắng đục.

- Tại túi áo khoác phía trước bên trái T đang mặc 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa các chất tinh thể màu trắng đục.

(Tất cả được cho vào 01 hộp giấy niêm phong theo đúng quy định)

- Tại túi quần phía trước bên phải P đang mặc 01 túi nilon màu trắng bên trong các chất bột tinh thể màu trắng (được cho vào phong bì thư niêm phong theo đúng quy định).

- 01 xe ô tô màu đen nhãn hiệu Lacetti, biển kiểm soát 31F - 7889.

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh đã cũ.

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone 6s đã cũ.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định số ma túy đã thu giữ của T và P.

Tại Bản Kết luận giám định số: 130/KLGĐ-PC54 ngày 23/12/2016 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:

- Chất tinh thể màu trắng bên trong 04 (bốn) túi ni lông màu trắng có khối lượng là: 381,3577 gam; Loại ma túy: Chất Methamphetamine.

- Các viên nén hình tròn màu trắng đục bên trong 01 (một) túi ni lông màu trắng có trọng lượng là: 24,2930 gam; Loại ma túy: Chất MDMA.

- Chất tinh thể màu trắng đục bên trong 01 (một) túi ni lông màu trắng có khối lượng là: 9,7602 gam; Loại ma túy: Chất Ketamine.

Tại Bản kết luận giám định số: 131/KLGĐ-PC54, ngày 23/12/2016 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 (một) túi ni lông màu trắng có khối lượng là: 1,6291 gam; Loại ma túy: Chất Ketamine.

Tại Cơ quan điều tra, T khai: Khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 22/12/2016, T đang uống nước tại quán nước gần Siêu thị Từ Sơn, thị xã G thì có một người đàn ông (T không quen biết, không biết tên, tuổi, địa chỉ của người đàn ông này) đến gặp và đặt vấn đề muốn thuê T vận chuyển ma túy tổng hợp từ Siêu thị G đến Khu 3 Cẩm Giang, phường Đồng Nguyên, thị xã G. Người này hứa khi xong việc sẽ trả công cho T 500.000 đồng, T đồng ý nên người đàn ông đưa cho T một túi ni lông màu đen bên trong có ma túy. T mở túi ni lông ra thấy bên trong có nhiều túi ni lông nhỏ chứa ma túy tổng hợp. Sau đó, T lấy 01 túi ni lông nhỏ màu trắng có chất tinh thể màu trắng, đục cất vào túi áo khoác bên trái, phía trước; 01 túi ni lông nhỏ màu trắng có các viên nén hình tròn màu trắng đục T giấu vào túi áo khoác phía trước, bên phải; 01 túi ni lông màu đen trong có bốn túi ni lông màu trắng có chất tinh thể màu trắng T cho vào túi áo khoác phía trong, bên trái, phía trước chiếc áo khoác T đang mặc. Lúc này người đàn ông cho T số điện thoại của Ngô Dương Minh P là số: 0986637673 để T gọi điện và đón P đi cùng để giao ma túy cho người nhận. Sau đó, người đàn ông bỏ đi. Còn T sử dụng điện thoại Nokia màu xanh điện thoại cho P đi cùng để giao ma túy, P đồng ý. Sau đó, T lái xe ôtô BKS: 31F - 7889 cùng số ma túy T nhận vận chuyển thuê đến đón P tại khu phố E, phường F, thị xã G đi cùng. Khi P lên xe ô tô thì T không nói với P số ma túy T cất giấu trong người T và P cũng không biết. Khi đi đến Khu 3, Cẩm Giang, phường Đồng Nguyên thì bị Công an phát hiện bắt giữ. T không biết P cất giữ ma túy trong người.

Tại Cơ quan điều tra P khai: sáng ngày 22/12/2016, P ra trước cửa nhà mình ở khu phố E, phường F, thị xã G thì nhặt được 01 túi ni lông nhỏ màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng đục. P biết đó là ma túy tổng hợp vì bản thân P nghiện ma túy. Sau đó, P cất túi ma túy này vào túi quần phía trước, bên phải mà P đang mặc với mục đích để P sử dụng cho cá nhân. Đến khoảng 15 giờ 30 cùng ngày, P nhận được điện thoại của T rủ đi chơi, T đi xe ô tô đến nhà đón P. Khi T và P đi đến Khu 3, Cẩm Giang, phường Đồng Nguyên thì bị Công an bắt giữ. Lúc này, P mới biết T có ma túy để trong người. Số ma túy Công an thu giữ của P khi lên xe ô tô P cũng không nói cho T biết, P sử dụng chiếc điện thoại Nokia để T liên lạc, khi Công an bắt P đã bị rơi không tìm thấy điện thoại.

Ngày 07/04/2017 Cơ quan điều tra đã tiến hành cho T và P đối chất. Kết quả đối chất: T vẫn khẳng định vào ngày 22/12/2016, T rủ P cùng Vận chuyển trái phép chất ma túy và P đồng ý. Còn P khẳng định không biết và không liên quan gì đến số ma túy của T bị Công an thu giữ vào ngày 22/12/2016.

Tại bản Cáo trạng số: 49/CTr -VKS - P1 ngày 29/5/2017 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Cơ T về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 194 Bộ luật hình sự. Truy tố bị cáo Ngô Dương Minh P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 (Điểm g khoản 1 Bộ luật hình sự năm 2015).

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo T và bị cáo P vẫn giữ nguyên toàn bộ lời khai của mình như đã khai tại cơ quan điều tra, cả hai bị cáo đều thừa nhận cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội và đều đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của hai bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử hai bị cáo theo tội danh mà bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị:

- Áp dụng điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Cơ T 20 năm tù. Phạt bổ sung từ 5 đến 10 triệu đồng sung công quỹ nhà nước.

- Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 (Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015) Điều 33 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Dương Minh P từ 12 đến 15 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo P.

Đại diện Viện kiểm sát cũng đề nghị về xử lý vật chứng.

Bị Cáo P không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Luật sư Nguyễn Văn K1 bào chữa cho bị cáo Nguyễn Cơ T nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh và điều luật áp dụng. Ông K1 đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T, đề nghị xử phạt T 18 năm tù.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, ý kiến của các bị cáo và của những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Bị cáo Nguyễn Cơ T đã có hành vi vận chuyển ma túy thuê từ Siêu thị Từ Sơn, thị xã G đến Khu 3, Cẩm Giang, phường Đồng Nguyên, thị xã G với mục đích để được nhận tiền công là 500.000 đồng, số lượng ma túy mà T nhận vận chuyển thuê là 6 túi nilon, trong mỗi túi đều chứa ma túy là chất tinh thể màu trắng, các viên nén hình tròn màu trắng đục và chất tinh thể màu trắng đục. Theo kết luận giám định, chất ma túy mà T đang vận chuyển là chất Methamphetamine có khối lượng 381,3577gam, các viên nén là chất ma túy MDMA có khối lượng 24,2930gam và tinh thể màu trắng đục là chất Ketamine có khối lượng 9,7602gam. Tổng số chất ma túy T vận chuyển là 415,4109 gam. Theo quy định của Bộ luật hình sự thì hành vi của Nguyễn Cơ T đã phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo Ngô Dương Minh P mặc dù Nguyễn Cơ T khẳng định vào ngày 22/12/2016, T rủ P cùng vận chuyển trái phép chất ma túy và P đồng ý nhưng P lại khẳng định không biết và không liên quan gì đến số ma túy của T bị Công an thu giữ, khi bị bắt giữ cơ quan điều tra chỉ thu giữ được tại túi quần phía trước bên phải P đang mặc 01 túi ni lông màu trắng bên trong chứa các chất bột tinh thể màu trắng theo kết luận giám định có khối lượng 1,6291gam là chất Ketamine, bản thân P là đối tượng nghiện ma túy, P khai giấu ma túy trong người để thỏa mãn cơn nghiện. Do vậy, chỉ đủ căn cứ để xác định P đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của Nguyễn Cơ T và Ngô Dương Minh P là rất nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ các chất ma túy mà bị cáo T vận chuyển và bị cáo P tàng trữ do nhà nước độc quyền quản lý, tuyệt đối cấm sử dụng trong đời sống xã hội. Việc sử dụng các chất này sẽ gây ảo giác cho người sử dụng, nếu dùng với liều lượng cao có thể dẫn tới trụy tim và tử vong. Ngoài tác hại trực tiếp đến sức khỏe của người sử dụng, tệ nạn ma túy còn gây suy yếu giống nòi, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác như giết người, cướp của. Do vậy, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo mới đủ để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo thấy: trong vụ án này, T giữ vai trò chính vì T là người trực tiếp nhận vận chuyển thuê ma túy nhằm hưởng lợi bất chính. Đối với nhân thân của Nguyễn Cơ T theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo cần xác định T phạm tội lần này thuộc trường hợp không phải có tiền án, bởi lẽ bản án 30 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” do Tòa án nhân dân huyện D xét xử ngày 06/12/2012 bị cáo đã chấp hành xong hình phạt vào ngày 11/11/2014. Đến ngày 22/12/2016, bị cáo phạm tội mới, theo quy định tại điều 70 Bộ luật hình sự năm 2015, bị cáo đương nhiên được xóa án tích. Đối với bản án số: 54/2010/HSST ngày 18/8/2010 của Tòa án nhân dân quận K, Hải Phòng tuy bị cáo chưa nộp tiền án phí 200.000 đồng nhưng căn cứ vào biên bản xác minh tại Chi cục thi hành án dân sự quận K thì lỗi chưa nộp số tiền án phí trên không phải do bị cáo mà do cơ quan thi hành án trong quá trình bàn giao hồ sơ thi hành án đã làm thất lạc bản án. Tuy nhiên, cũng cần xác định bị cáo có nhân thân xấu nay lại phạm tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý. Vì vậy, phải có mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly T khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Bị cáo chỉ được hưởng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo.

Đối với bị cáo Ngô Dương Minh P, được hưởng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có ông nội là liệt sỹ nhưng bị cáo không chịu rèn luyện bản thân, là người nghiện ma túy nên cũng cần áp dụng hình phạt cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới giúp bị cáo trở thành công dân có ích. Tuy nhiên, cũng cần áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo theo mức hình phạt quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tại phiên tòa là có căn cứ pháp luật.

Xét thấy, các bị cáo đều là lao động tự do, không có nghề nghiệp và không có thu nhập ổn định, bị cáo P là đối tượng nghiện ma túy nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

* Về tang vật của vụ án: Toàn bộ tang vật là mẫu vật còn lại sau giám định cần phải tịch thu tiêu hủy; 02 chiếc điện thoại di động thu giữ của các bị cáo dùng liên lạc khi phạm tội nên cần tịch thu sung công.

Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Lacetti, biển kiểm soát 31F - 7889, T khai mượn của anh Tạ Đức D1, sinh năm 1990 ở xóm X, xã X1, thị xã G để đi chơi. Cơ quan điều tra đã xác định: chiếc xe ô tô nêu trên là của anh Nguyễn Tất Q1, sinh năm 1966 ở phường Đình Bảng, thị xã G cho anh Tạ Đức D1 thuê với mục đích để làm phương tiện đi lại. Việc T vận chuyển trái phép chất ma túy vào ngày 22/12/2016, anh D1 và anh Q1 không biết và không tham gia vào việc này. Ngày 09/01/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh đã Quyết định xử lý

Vật chứng trả lại chiếc xe ô tô nhãn hiệu Lacetti, biển kiểm soát 31F - 7889 cho anh Nguyễn Tất Q1 là phù hợp.

Đối với người đàn ông đã thuê T vận chuyển trái phép chất ma túy vào ngày 22/12/2016. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra xác minh, nhưng chưa có kết quả, khi nào đủ tài liệu chứng cứ sẽ xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

* Tuyên bố bị cáo Nguyễn Cơ T phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Bị cáo Ngô Dương Minh P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự; Điều 228 Bộ luật tố tụng hình sự. Xử phạt Nguyễn Cơ T 20 (Hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2016. Quyết định duy trì Lệnh tạm giam số: 76/2017/HSST - LTG ngày 19/6/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đối với bị cáo Nguyễn Cơ T để đảm bảo thi hành án.

* Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999. (Điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015); Điều 228 Bộ luật tố tụng hình sự. Xử phạt Ngô Dương Minh P 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2016. Quyết định tạm giam bị cáo Ngô Dương Minh P thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

* Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư dán giấy kín niêm phong có dấu đỏ và chữ ký của Phòng C54 - Công an tỉnh Bắc Ninh, mặt trước có ghi chữ: “PC 54; Cơ quan CSĐT - CA tỉnh Bắc Ninh. Mẫu vật còn lại sau giám định kèm theo kết luận số: 131/KLGĐ - PC 54 ngày 23/12/2016 của PC 54”. Tịch thu tiêu hủy 01 túi giấy niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định, mặt trước có ghi chữ: “Kính gửi: Cơ quan CSĐT- Công an tỉnh Bắc Ninh. Mẫu vật còn lại sau giám định kèm theo kết luận số: 130/KLGĐ - P54 ghi ngày 23/12/2016 của Phòng Kỹ thuật hình sự”, trên các mép dán có chữ ký và dấu đỏ của Phòng cảnh sát hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh.

- Tịch thu sung công 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh đã cũ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s đã qua sử dụng, Model A1687FCCID; BCG - E2044A; IC579c-E2944A.

Các tài sản, vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 37/CTHA ngày 25/5/2017 và số: 56/CTHA ngày 16/8/2017 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.

* Bị cáo Nguyên Cơ T và Ngô Dương Minh P, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

* Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.


47
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 37/2017/HSST ngày 27/07/2017 về tội vận chuyển trái phép chất ma túy

    Số hiệu:37/2017/HSST
    Cấp xét xử:Sơ thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Bắc Ninh
    Lĩnh vực:Hình sự
    Ngày ban hành:27/07/2017
    Là nguồn của án lệ
      Bản án/Quyết định sơ thẩm
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về