Bản án 374/2017/HS-PT ngày 24/07/2017 về tội vận chuyển trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 374/2017/HS-PT NGÀY 24/07/2017 VỀ TỘI VẬN CHUYỂN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 24 tháng 7 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 243/2017/TLPT-HS ngày 23 tháng 5 năm 2017 đối với bị cáo Huỳnh Duy Tuấn K.

Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 131/2017/HSST ngày 17 tháng 4 năm 2017 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo kháng cáo:

Huỳnh Duy Tuấn K, sinh năm 1983 tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: nam; trú tại: 85/49 Đường Z, Phường 19, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: không; con ông Huỳnh Duy T và bà Huỳnh Thị C; có vợ Phạm Thị Tuyết S (đã chết) và 01 con sinh năm 2004; tiền sự: không; tiền án: tại bản án số 508/2007/HSST ngày 28/5/2007 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 13 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, chấp hành xong hình phạt ngày 22/12/2014. Bị bắt tạm giam ngày 19/9/2016 (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Duy Tuấn K: Luật sư Nguyễn Thị B, thuộc đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

(Trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập đến phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 19/9/2016, tại trước số 245 đường Đ, Phường 5, Quận X, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an Quận X phối hợp Công an Phường 5, Quận X kiểm tra bắt quả tang Huỳnh Duy Tuấn K đang vận chuyển trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi xách màu nâu K đeo trước ngực bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, qua giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 512,57g, loại Methamphetamine (Kết luận giám định số 1742/KLGĐ-H ngày 31/10/2016 và Công văn giải thích từ ngữ trong Kết luận giám định ma túy của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh).

Quá trình điều tra Huỳnh Duy Tuấn K khai nhận: tháng 9/2016, K quen với người đàn ông tên A (không rõ lai lịch) tại quán Bar trên đường M, Quận 1, trong lúc nói chuyện A gợi ý K đi giao ma túy cho người khác giúp sẽ được A cho tiền tiêu xài, K đồng ý. K đã 02 lần đi giao ma túy cho A, lần đầu vào ngày 09/9/2016, K nhận gói ma túy để trong bao thuốc lá hiệu Marlboro từ A tại khu vực siêu thị Lotte Mart trên đường U, Quận Y đem đến khu vực đường Đ, Quận X giao cho P (không rõ lai lịch) sau đó được A cho 500.000 đồng tiêu xài, lần thứ hai vào ngày 19/9/2016, K nhận gói ma túy đá (512,57g) của A để vào trong túi xách đeo trước ngực, A hứa giao xong sẽ cho 2.000.000 đồng, trên đường K đem ma túy đến Quận X giao cho P thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 131/2017/HSST ngày 17 tháng 4 năm 2017 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định như sau:

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Duy Tuấn K phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng điểm e khoản 4, khoản 5 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự, xử phạt Huỳnh Duy Tuấn K 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/9/2016.

Buộc bị cáo Huỳnh Duy Tuấn K phải nộp phạt bổ sung số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng để sung quỹ nhà nước.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 20/4/2017, bị cáo Huỳnh Duy Tuấn K có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phân tích toàn bộ các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo Huỳnh Duy Tuấn K về tính chất mức độ phạm tội và xét đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Huỳnh Duy Tuấn K, vị kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Huỳnh Duy Tuấn K; giữ nguyên quyết định bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đối với bị cáo Huỳnh Duy Tuấn K tại phiên tòa phúc thẩm vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, với lý do: án sơ thẩm xử quá nặng so với hành vi phạm tội của bị cáo, sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, vợ bị cáo mất sớm, con còn nhỏ không có người chăm sóc, bị cáo là lao động chính trong gia đình.

Quan điểm của vị luật sư bào chữa bảo vệ cho bị cáo Huỳnh Duy Tuấn K cũng phân tích toàn bộ các chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ, chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, Luật sư, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Huỳnh Duy Tuấn K là trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử xem xét.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Huỳnh Duy Tuấn K thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung án sơ thẩm đã nêu. Bị cáo không khiếu nại nội dung vụ án, bị cáo chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Xét thấy lời khai của bị cáo Huỳnh Duy Tuấn K phù hợp với lời khai của bị cáo ở cơ quan điều tra, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định bị cáo Huỳnh Duy Tuấn K có hành vi “Vận chuyển trái phép chất ma túy” với số lượng ma túy bị cáo vận chuyển bị bắt quả tang là 512,57gam ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, do đó Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Huỳnh Duy Tuấn K phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm khoản 4 Điều 194 của Bộ Luật hình sự là có căn cứ đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo Huỳnh Duy Tuấn K là đặc biệt nghiêm trọng, đã gây ra trực tiếp xâm phạm đến các chính sách độc quyền về quản lý các chất ma tý của Nhà nước, gây ảnh hưởng rất xấu đến nền trật tự an toàn xã hội, bị cáo nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp hình sự, bản thân bị cáo đã bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 13 năm tù về tội “Mua bán trái phép chât ma túy” chưa được xóa án thì lại tiếp tục phạm tội đặc biệt nghiêm trọng một cách cố ý thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự, bị cáo do ý thức xem thường bất chấp pháp luật, vì động cơ hám lợi nên bị cáo cố tình thực hiện hành vi phạm tội, tạo ra sự bất bình dư luận trong xã hội, nên cần phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng nhằm răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung cho toàn xã hội.

[4] Tuy nhiên, xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm xem xét bị cáo Huỳnh Duy Tuấn K sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, vợ bị cáo mất sớm, con còn nhỏ không có người chăm sóc. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xem xét và xử phạt bị cáo 20 năm tù là đã có căn cứ.

[5] Bị cáo Huỳnh Duy Tuấn K kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cũng như quan điểm của vị luật sư bào chữa cho bị cáo, nhưng không có tình tiết giảm nhẹ nào mới nên có cơ sở chấp nhận, ý kiến của vị đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, bản án sơ thẩm cần được giữ nguyên.

[6] Về án phí: Bị cáo Huỳnh Duy Tuấn K phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 248 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Huỳnh Duy Tuấn K.

Giữ nguyên quyết định án Hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Tuyên bố: bị cáo Huỳnh Duy Tuấn K phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm e khoản 4 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự,

Xử phạt bị cáo Huỳnh Duy Tuấn K 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 19/9/2016.

Về án phí: Bị cáo Huỳnh Duy Tuấn K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


128
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 374/2017/HS-PT ngày 24/07/2017 về tội vận chuyển trái phép chất ma túy

      Số hiệu:371/2017/HS-PT
      Cấp xét xử:Phúc thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
      Lĩnh vực:Hình sự
      Ngày ban hành:24/07/2017
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về