Bản án 375/2006/KDTM-ST ngày 31/07/2006 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN  375/2006/KDTM-ST NGÀY 31/07/2006 VỀ VIỆC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Trong các ngày 26 và 31 tháng 7 năm 2006 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 313/2005/TLST-KDTM ngày 19 tháng 10 năm 2005 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1209/2006/QĐST-KDTM ngày 17 tháng 7 năm 2006 giữa các đương sự:

Nguyên đơn : NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM

Địa chỉ : 198 Trần Quang Khải, Hà Nội

Chi nhánh tại TPHCM : 29 Bến Chương Dương, Quận 1

Đại diện : Ông Vũ Trọng Mạnh, GUQ số 2310 ngày 02/11/2005

Bị đơn : CÔNG TY TNHH SX TM XD DV HỒNG LONG

Địa chỉ : 282 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường 8, Quận 3, TPHCM

Đại diện : Ông Nguyễn Minh Thái, GUQ ngày 25/7/2006

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan :

NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM

Địa chỉ : 108 Trần Hưng Đạo, Q. Hoàn Kiếm, Hà Nội

Sở Giao dịch II tại TPHCM : 79A Hàm Nghi, Quận 1

Đại diện : Ông Nguyễn Tiến Vĩnh, GUQ số 104 ngày 01/01/2005

(Tất cả đều có mặt)

NHẬN THẤY

Nguyên đơn trình bày :

Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 0406/TD1/98BL ngày 30/3/1998 (hợp đồng vay bắt buộc do không thanh toán được nợ tín dụng thư), Công ty TNHH SX TM XD DV Hồng Long còn nợ Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam số nợ gốc là 483.678,97 USD; số nợ lãi tính đến ngày 30/4/2005 là 706.812,86 USD., tổng cộng là 1.190.491,83 USD.

Khoản nợ nói trên hiện được bảo đảm bởi 3 bộ khung kho Zamil Steel (theo Hợp đồng thế chấp số 026/TD1/NHNT đã được công chứng ngày 08/5/1996) và quyền sử dụng 7.150 m2 đất tại Phường 12 TP. Vũng Tàu (theo Hợp đồng thế chấp số 157/TC đã được đăng ký tại Sở Tài nguyên – Môi trường tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ngày 08/10/2003).

Do Công ty Hồng Long không thanh toán được nợ (dù đã cam kết và được ngân hàng tạo điều kiện nhiều lần) nên Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam khởi kiện yêu cầu công ty phải thanh toán khoản nợ nói trên và yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho ngân hàng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày :

Căn cứ vào các hợp đồng tín dụng số 505/TD-TT ngày 12/6/1996; số 850/TD-TT ngày 11/10/1996; số 918/TD-TT ngày 26/10/1996; số 962/TD-TT ngày 15/11/1996 và các hợp đồng bảo lãnh số 240/BL ngày 10/8/1996; số 242/BL ngày 10/8/1996, tính đến ngày 21/11/2005, Công ty Hồng Long còn nợ Ngân hàng Công Thương Việt Nam (Sở giao dịch II) số nợ vay là 24.592.731.316 đồng, số nợ bảo lãnh là 10.466.222.920 đồng và nợ lãi là 109.675.648.138 đồng, tổng cộng là 144.734.602.374 đồng.

Để bảo đảm nợ vay và bảo lãnh, Công ty Hồng Long đã thế chấp cho Ngân hàng Công Thương Việt Nam các tài sản gồm:

- Quyền sử dụng 5 lô đất có tổng diện tích 50.000 m2 tại thị trấn Dĩ An, huyện Thuận An, tỉnh Sông Bé, nay thuộc Khu công nghiệp Sóng Thần, tỉnh Bình Dương (theo các Giấy thế chấp tài sản đã được công chứng ngày 17/6/1995 và 24/6/1995 của Công ty Hồng Long) ï.

- Tài sản gắn liền trên đất: Cụm nhà kho A1,A2, A3 (ngoại trừ 3 bộ khung kho đã được thế chấp cho Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam) có tổng diện tích xây dựng là 27.360 m2 và các công trình phụ trợ (theo Giấy thế chấp tài sản đã được công chứng ngày 03/8/1996 của Công ty Hồng Long).

- Phần xây dựng cụm nhà kho B1, B2 có diện tích xây dựng 8.760 m2 tại Khu công nghiệp Sóng Thần, tỉnh Bình Dương (theo Giấy thế chấp tài sản đã được công chứng ngày 03/6/1997 của Công ty Hồng Long)

Do Công ty Hồng Long không thanh toán được nợ (dù đã cam kết và được ngân hàng tạo điều kiện nhiều lần) nên Ngân hàng Công Thương Việt Nam khởi kiện yêu cầu công ty phải thanh toán khoản nợ nói trên và yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho ngân hàng.

Bị đơn trình bày :

Xác nhận số nợ gốc đúng như Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam yêu cầu nhưng đề nghị được xem xét lại việc tính lãi phát sinh do công ty gặp rất nhiều khó khăn về tài chính. Đối với yêu cầu của Ngân hàng Công Thương Việt Nam thì 2 bên chưa xác định được số dư nợ.

Tòa án đãnhiều lần triệu tập hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt (dù đã được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập) nên không thể tiến hành hòa giải được.

Do đó, Tòa án đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa hôm nay :

Nguyên đơn : Yêu cầu Công ty Hồng Long phải thanh toán các khoản: + Nợ gốc: 483.678,97 USD.

+ Nợ lãi tính đến ngày 26/7/2006: 775.132,51 USD.

(Tổng cộng nợ gốc và lãi: 1.258.811,48 USD)

+ Lãi phát sinh từ ngày 27/7/2006 theo mức lãi suất 11,25%/năm

Thời hạn thanh toán: 6 tháng kể từ ngày có bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Nếu quá hạn mà Công ty Hồng Long vẫn chưa thanh toán hết nợ thì yêu cầu phát mãi tài sản bảo đảm là 3 bộ khung kho Zamil Steel (theo Hợp đồng thế chấp số 026/TD1/NHNT đã được công chứng ngày 08/5/1996) và quyền sử dụng 7.150 m2 đất tại Phường 12 TP. Vũng Tàu (theo Hợp đồng thế chấp số 157/TC đã được đăng ký tại Sở Tài nguyên – Môi trường tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ngày 08/10/2003) để thu hồi nợ cho ngân hàng

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan : Yêu cầu Công ty Hồng Long phải thanh toán các khoản:

+ Nợ gốc: 35.058.954.236 đồng (gồm.nợ vay là 24.592.731.316 đồng và nợ bảo lãnh là 10.466.222.920 đồng)

+ Nợ lãi tính đến ngày 26/7/2006: 118.079.430.568 đồng

(Tổng cộng nợ gốc và lãi: 153.138.384.804 đồng)

+ Lãi phát sinh từ ngày 27/7/2006 theo mức lãi suất 1,875%/tháng (đối với nợ vay) và 1,8%/tháng (đối với nợ bảo lãnh)

Thời hạn thanh toán: ngay sau khi có bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Nếu Công ty Hồng Long không thanh toán nợ thì yêu cầu phát mãi tài sản bảo đảm là quyền sử dụng 5 lô đất có tổng diện tích 50.000 m2 cùng tài sản gắn liền trên đất là cụm nhà kho A1,A2, A3 có tổng diện tích xây dựng là 27.360 m2 và.phần xây dựng cụm nhà kho B1, B2 có diện tích xây dựng 8.760 m2 tại Khu công nghiệp Sóng Thần, tỉnh Bình Dương.

Đối với 3 bộ khung kho đã được thế chấp cho Ngân hàng Ngoại thương VN (trong cụm nhà kho A1, A2, A3) thì đề nghị cho phát mãi đồng thời và phân chia số tiền bán tài sản thu hồi được cho 2 ngân hàng theo tỷ lệ đã được 2 bên thỏa thuận là Ngân hàng Ngoại thương VN thu 35,95% và Ngân hàng Công Thương thu 64,05% trên tổng giá trị xây dựng công trình.

Bị đơn :

+ Xác nhận và chấp nhận toàn bộ các yêu cầu của Ngân hàng Ngoại thương VN.

+ Đối với yêu cầu của Ngân hàng Công Thương VN: xác nhận và chấp nhận trả số nợ gốc mà ngân hàng yêu cầu là 35.058.954.236 đồng, còn nợ lãi chỉ đồng ý trả số nợ lãi mà ngân hàng đã khoanh lại từ tháng 9 năm 1998 (theo 2 công văn số 1759 ngày 23/10/1998 và số 2139 ngày 07/7/2005 của Ngân hàng Công Thương VN) là 21.564.830.072 đồng.

Về việc phát mãi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho 2 ngân hàng: Công ty Hồng Long đồng ý cho phát mãi mà không yêu cầu định giá để xác định tỷ lệ phân chia cho 2 ngân hàng nữa (vì các ngân hàng không chấp nhận hoãn phiên tòa để định giá).

Về thời hạn thanh toán nợ: Đề nghị cho công ty được thanh toán trong vòng 24 tháng kể từ ngày có bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định :

1. Về thẩm quyền giải quyết vụ án :

Đây là tranh chấp về kinh doanh, thương mại (hợp đồng tín dụng) giữa các tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận với trị giá tranh chấp lớn hơn 50.000.000 đồng, bị đơn có trụ sở tại Quận 3, TPHCM. Vì vậy, căn cứ vào điểm m, khoản 1, Điều 29, Điều 34, khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 3 Nghị quyết số 32/2004/QH11 ngày 15/6/2004 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 1 Nghị quyết số 742/2004/NQ-UBTVQH11 ngày 24/12/2004 của Uûy ban thường vụ Quốc hội về việc giao thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự quy định tại Điều 33 Bộ luật tố tụng dân sự cho các Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, vụ tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân TPHCM theo thủ tục tố tụng dân sự.

2. Về thời hiệu khởi kiện :

Căn cứ vào Điều 160 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 171 Bộ luật dân sự năm 1995, nguyên đơn đã làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án trong thời hạn quy định do đó, cần được chấp nhận thụ lý để giải quyết.

3. Về nội dung tranh chấp :

a) Xét yêu cầu của nguyên đơn đòi Công ty TNHH SX TM XD DV Hồng Long phải thanh toán cho Ngân hàng Ngoại thương VN số nợ gốc là 483.678,97 USD; số nợ lãi tính đến ngày 26/7/2006 là 775.132,51 USD, tổng cộng là 1.258.811,48 USD, và số tiền lãi phát sinh từ ngày 27/7/2006 đến ngày trả hết nợ gốc theo mức lãi suất 11,25%/năm; nếu Cty Hồng Long không thanh toán nợ thì yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho ngân hàng:

Về yêu cầu thanh toán (nợ vốn, nợ lãi và lãi phát sinh):

Yêu cầu này phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký giữa 2 bên cũng như quy định của pháp luật tại điểm c, khoản 2 Điều 54, khoản 2 Điều 56 Luật các tổ chức tín dụng, khoản 2 Điều 24, khoản 1 Điều 25 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định sô 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và đã đượcï bị đơn chấp nhận tại phiên tòa nên có căn cứ để được chấp nhận.

Về yêu cầu phát mãi tài sản:

Yêu cầu này phù hợp với quy định của pháp luật tại các điều 22, 23, 24 Nghị định số 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; các điều 31, 32, 33, 34 Nghị định số 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của tổ chức tín dụng; điểm a, khoản 3 Điều 130 Luật đất đai năm 2003 và đã được các bên liên quan đồng ý nên có căn cứ để được chấp nhận.

b) Xét yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đòi Công ty TNHH SX TM XD DV Hồng Long phải thanh toán cho Ngân hàng Công Thương VN số nợ gốc là 35.058.954.236 đồng; số nợ lãi tính đến ngày 26/7/2006 là 118.079.430.568 đồng., tổng cộng là 153.138.384.804 đồng, và số tiền lãi phát sinh từ ngày 27/7/2006. đến ngày trả hết nợ gốc theo mức lãi suất 1,875%/tháng và 1,8%/tháng; nếu Cty Hồng Long không thanh toán nợ thì yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho ngân hàng:

Về yêu cầu thanh toán nợ vốn:

Yêu cầu này phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo lãnh đã ký giữa 2 bên cũng như quy định của pháp luật tại điểm c, khoản 2 Điều 54, khoản 2 Điều 56 Luật các tổ chức tín dụng, khoản 2 Điều 24, khoản 1 Điều 25 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định sô 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và đã đượcï bị đơn chấp nhận tại phiên tòa nên có căn cứ để được chấp nhận.

Về yêu cầu thanh toán nợ lãi và tiền lãi phát sinh:

Căn cứ vào văn bản số 1759 ngày 23/10/1998 và số 2139 ngày 07/7/2005 của Ngân hàng Công Thương VN (Sở giao dịch II) thì Ngân hàng Công Thương VN đã đồng ý khoanh nợ (tạm ngưng tính lãi) đối với Cty Hồng Long kể từ tháng 9 năm 1998 và số nợ lãi tính đến ngày 30/6/2005 đã được ngân hàng và Cty Hồng Long chấp nhận là 21.564.830.072 đồng, Từ ngày 01/7/2005 trở đi, do đã hết thời hạn được giãn nợ 7 năm theo thỏa thuận của 2 bên, Công ty Hồng Long phải có trách nhiệm tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tại thời điểm tháng 7/2005 là 0,65%tháng x 150% = 0,975%/tháng. Tính đến ngày xét xử 26/7/2006, số tiền lãi phát sinh sau ngày 30/6/2005 mà Cty Hồng Long phải trả là 4.443.722.449 đồng.

Như vậy, chỉ có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu của Ngân hàng Công thương VN là buộc Cty Hồng Long phải trả nợ lãi tính đến ngày xét xử 26/7/2006 là 26.008.552.521 đồng và số tiền lãi phát sinh từ ngày 27/7/2006 cho đến ngày trả hết nợ vốn theo mức lãi suất nợ quá hạn là 0,975 %/tháng.

Về yêu cầu phát mãi tài sản:

Yêu cầu này phù hợp với quy định của pháp luật tại các điều 22, 23, 24 Nghị định số 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; các điều 31, 32, 33, 34 Nghị định số 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của tổ chức tín dụng; điểm a, khoản 3 Điều 130 Luật đất đai năm 2003 và đã được các bên liên quan đồng ý nên có căn cứ để được chấp nhận.

Về yêu cầu phát mãi một lượt toàn bộ cụm nhà kho A1, A2, A3 (đồng thời với phát mãi quyền sử dụng đất) và phân chia số tiền bán được cho 2 ngân hàng theo tỷ lệ mà 2 ngân hàng đã thỏa thuận: Do thời hạn thanh toán nợ mà 2 ngân hàng yêu cầu đối với Cty Hồng Long không thống nhất với nhau (Ngân hàng Công Thương VN yêu cầu trả ngay trong khi Ngân hàng Ngoại thương VN lại cho thời hạn 6 tháng) và Cty Hồng Long cũng không có thỏa thuận về tỷ lệ phân chia giá trị tài sản bảo đảm nên không có căn cứ để Tòa án chấp nhận yêu cầu này. Tuy nhiên, trong quá trình thi hành án nếu các bên thỏa thuận được phương án phát mãi và phân chia số tiền bán tài sản thế chấp nói trên cho các ngân hàng thì có quyền đề nghị cơ quan thi hành án thực hiện theo phương án đã thỏa thuận. Trường hợp Cty Hồng Long không thống nhất ý kiến thì 2 ngân hàng có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án theo quy định của pháp luật.

Về ý kiến của Công ty Hồng Long đề nghị thời hạn thanh toán nợ là 24 tháng (kể từ ngày có bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án) để công ty có điều kiện trả nợ: Ý kiến này không có căn cứ để được chấp nhận vì các khoản nợ nói trên đều đã quá hạn và các ngân hàng không đồng ý kéo dài thời gian thanh toán nợ theo đề nghị của công ty.

4. Về án phí:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 131 Bộ luật tố tụng dân sự và các điều 15, 18 và 19 Nghị định số 70/CP ngày 12/6/1997 của Chính phủ về án phí, lệ phí Tòa án :

Công ty Hồng Long phải chịu án phí sơ thẩm trên số tiền phải trả cho hai ngân hàng.

Ngân hàng Công Thương VN phải chịu án phí sơ thẩm trên số tiền yêu cầu không được Tòa án chấp nhận.

Ngân hàng Ngoại thương VN không phải chịu án phí nên được nhận lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Aùp dụng Điều 54, Điều 56 Luật các tổ chức tín dụng và điểm a, khoản 3 Điều 130 Luật đất đai năm 2003;

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Xây dựng Dịch vụ Hồng Long phải thanh toán cho Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam số nợ vốn là 483.678,97 USD; số nợ lãi tính đến ngày 26/7/2006 là 775.132,51 USD, tổng cộng nợ vốn và lãi là 1.258.811,48 USD (một triệu hai trăm năm mươi tám ngàn tám trăm mười một đô la Mỹ bốn mươi tám xen), và số tiền lãi phát sinh từ ngày 27/7/2006 cho đến ngày trả hết nợ vốn theo mức lãi suất nợ quá hạn là 11,25%/năm.

Thời hạn thanh toán: trong vòng 6 tháng kể từ ngày có bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Nếu quá hạn nói trên mà Công ty Hồng Long chưa thanh toán đủ số tiền nợ vốn, nợ lãi và lãi phát sinh thì áp dụng biện pháp cưỡng chế phát mãi tài sản bảo đảm là 3 bộ khung kho Zamil Steel lắp đặt tại cụm nhà kho A1,A2, A3 của Công ty Hồng Long tại Khu công nghiệp Sóng Thần, tỉnh Bình Dương (theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 026/TD1/NHNT đã được công chứng ngày 08/5/1996) và quyền sử dụng 7.150 m2 đất tại Phường 12 TP. Vũng Tàu (theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 157/TC đã được đăng ký tại Sở Tài nguyên – Môi trường tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ngày 08/10/2003) theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ cho ngân hàng.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, buộc Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Xây dựng Dịch vụ Hồng Long. phải thanh toán ngay cho Ngân hàng Công Thương Việt Nam số nợ vốn là 35.058.954.236 đồng, số nợ lãi tính đến ngày 26/7/2006 là 26.008.552.521 đồng, tổng cộng nợ vốn và lãi là 61.067.506.757 đ (sáu mưoi mốt tỷ không trăm sáu mươi bảy triệu năm trăm lẻ sáu ngàn bảy trăm năm mươi bảy đồng), và số tiền lãi phát sinh từ ngày 27/7/2006 cho đến ngày trả hết nợ vốn theo mức lãi suất nợ quá hạn 0,975%/tháng.

Nếu Công ty Hồng Long không thanh toán đủ số tiền nợ vốn, nợ lãi và lãi phát sinh nói trên thì áp dụng biện pháp cưỡng chế phát mãi tài sản bảo đảm của Công ty Hồng Long tại Khu công nghiệp Sóng Thần, tỉnh Bình Dương là quyền sử dụng 5 lô đất có tổng diện tích 50.000 m2 cùng tài sản gắn liền trên đất là cụm nhà kho A1,A2, A3 có tổng diện tích xây dựng là 27.360 m2 (trừ 3 bộ khung kho đã thế chấp cho Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam nói trên) (theo các Giấy thế chấp tài sản đã được công chứng ngày 17/6/1995, 24/6/1995 và 03/8/1996 của Công ty Hồng Long) và.phần xây dựng cụm nhà kho B1, B2 có diện tích xây dựng 8.640 m2 (theo Giấy thế chấp tài sản đã được công chứng ngày 03/6/1997 của Công ty Hồng Long) theo quy định của pháp luật.để thu hồi nợ cho ngân hàng.

3. Về án phí :

Công ty Hồng Long phải chịu án phí sơ thẩm là 135.211.000 đ (một trăm ba mươi lăm triệu hai trăm mười một ngàn đồng).

Ngân hàng Công Thương VN phải chịu án phí sơ thẩm là 119.070.000 đ (một trăm mười chín triệu không trăm bảy mươi ngàn đồng); cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 85.867.000 đồng (theo Biên lai thu tiền số 002392 ngày 22 tháng 6 năm 2006 của Thi hành án dân sự TPHCM), Ngân hàng Công Thương VN còn phải nộp thêm 33.203.000 đồng.

Ngân hàng Ngoại thương VN không phải chịu án phí nên được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp (theo Biên lai thu tiền số 000351 ngày 30 tháng 9 năm 2005 của Thi hành án dân sự TPHCM) là 22.904.879 đồng.

4. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.


141
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 375/2006/KDTM-ST ngày 31/07/2006 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:375/2006/KDTM-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành:31/07/2006
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về