Bản án 37A/2019/HNGĐ-ST ngày 10/07/2019 về yêu cầu ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

BẢN ÁN 37A/2019/HNGĐ-ST NGÀY 10/07/2019 VỀ YÊU CẦU LY HÔN

Ngày 10 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 469/2018/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2018, về tranh chấp: “Yêu cầu ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2019/QĐST-HNGĐ ngày 24/6/2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng B; sinh năm: 1984.

Địa chỉ: 48, đường số 9, khu phố 1, phường T, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Hồ Văn H, sinh năm: 1981.

Địa chỉ: 108 L, khu phố 6, thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

(Bà B, ông H có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn, các văn bản làm việc tại Toà án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng B trình bày:

Bà Nguyễn Thị Hồng B và ông Hồ Văn H có tìm hiểu nhau, có tổ chức lễ cưới, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Đăng ký kết hôn vào ngày 28/9/2011 tại Ủy ban nhân dân phường T, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian đầu bà B, ông H sống hạnh phúc và lo làm ăn, ông H lúc nào cũng quan tâm, lo nghĩ đến gia đình. Nhưng bắt đấu đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp tính nhau, thường xuyên cải vã, bất đồng trong quan điểm sống, không tôn trọng lẫn nhau. Mâu thuẫn chủ yếu là vấn đề kinh tế gia đình, giữa hai vợ chồng thường xuyên xích mích và căng thẳng về vấn đề tiền bạc, chi tiêu và sinh hoạt trong gia đình. Bà B luôn sống trong nổi ám ảnh, lo sợ và áp lực tiền bạc, tinh thần. Một phần, có sự mâu thuẫn giữa mẹ chồng và nàng dâu. Cuộc sống giữa bà B và ông H luôn căng thẳng và mệt mỏi. Giữa hai vợ chồng đã nhiều lần cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng để giữ gìn hạnh phúc gia đình nhưng không thành, ngược lại ngày càng phát sinh thêm nhiều mâu thuẫn đến mức không thể hàn gắn được nữa, không còn quan tâm, yêu thương nhau. Bà B và ông H sống ly thân từ năm 2014 cho đến nay.

Nay bà B yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về quan hệ hôn nhân: Bà B yêu cầu được ly hôn với ông Hồ Văn H.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Hồng B và ông Hồ Văn H có 02 người con chung là cháu Hồ Thị Minh H, sinh ngày: 17/8/2012 và cháu Hồ Thị Minh A, sinh ngày: 04/10/2015.

Bà B có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu H và cháu A. Bà B không yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà B không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Hồ Văn H trình bày:

Theo bản tự khai ngày 19/4/2019, ông Hồ Văn H khai:

Ông Hồ Văn H và bà Nguyễn Thị Hồng B có tìm hiểu nhau, có tổ chức lễ cưới, hôn nhân tự nguyện. Đăng ký kết hôn vào ngày 28/9/2011 tại Ủy ban nhân dân phường T, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian đầu, vợ chồng sống hạnh phúc và lo làm ăn nhưng sau đó thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không sống với nhau được. Ông H và bà B sống ly thân từ năm 2012 cho đến nay.

Nay bà B yêu cầu được ly hôn với ông H thì ông H đồng ý ly hôn với bà B.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Hồng B và ông Hồ Văn H có 02 người con chung là cháu Hồ Thị Minh H, sinh ngày: 17/8/2012 và cháu Hồ Thị Minh A, sinh ngày: 04/10/2015.

Ông H đồng ý để bà B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu H và cháu A. Ông H không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, về nợ chung: Ông H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Về tố tụng Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án là đúng theo quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án bà B và ông H chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn. Sau đó phát sinh mâu thuẫn. Bà B yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà B được ly hôn với ông H nên Tòa án cần xử chấp nhận yêu cầu của bà B. Về con chung: Bà B có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng các cháu H và A, bà B không yêu cầu ông H cấp dưỡng để bà B nuôi con chung thì Tòa án cần chấp nhận. Về tài sản chung và nợ chung: Bà B không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này bà B, ông H có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung thì dành quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Hồng B và ông Hồ Văn H có tìm hiểu nhau, có tổ chức lễ cưới, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Đăng ký kết hôn vào ngày 28/9/2011 tại Ủy ban nhân dân phường T, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. Nay bà B yêu cầu ly hôn nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình; Nơi cư trú của ông Hồ Văn H là thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nên Tòa án nhân dân huyện Châu Đức thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 36; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Bà B, ông H có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt bà B, ông H là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng B và ông Hồ Văn H có tìm hiểu nhau, có tổ chức lễ cưới, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu bà B, ông H sống hạnh phúc và lo làm ăn. Đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo bà B là do vợ chồng không hợp tính nhau, thường xuyên cải vã, bất đồng trong quan điểm sống, không tôn trọng lẫn nhau. Mâu thuẫn chủ yếu là vấn đề kinh tế gia đình, giữa hai vợ chồng thường xuyên xích mích và căng thẳng về vấn đề tiền bạc, chi tiêu và sinh hoạt trong gia đình. Một phần, có sự mâu thuẫn giữa mẹ chồng và nàng dâu. Giữa hai vợ chồng đã nhiều lần cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng để giữ gìn hạnh phúc gia đình nhưng không thành. Còn theo ông ông H thì thời gian đầu, vợ chồng sống hạnh phúc và lo làm ăn nhưng sau đó thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không sống với nhau được. Ông H và bà B đã sống ly thân. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu ly hôn của bà B, Tòa án đã triệu tập ông H để làm việc và hòa giải về quan hệ hôn nhân để bà B và ông H tiếp tục sống với nhau nhưng ông H đến Tòa án ghi bản tự khai và xin giải quyết, xét xử vắng mặt. Như vậy giữa bà B và ông H có mâu thuẫn, bà B và ông H sống ly thân là có thật. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa bà B và ông H ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình xử cho bà Nguyễn Thị Hồng B được ly hôn với ông Hồ Văn H.

[3] Về con chung: Bà Nguyễn Thị Hồng B và ông Hồ Văn H có 02 người con chung là cháu Hồ Thị Minh H, sinh ngày: 17/8/2012 và cháu Hồ Thị Minh A, sinh ngày: 04/10/2015. Bà B có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu H và cháu A. Ông H đồng ý để bà B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu H và cháu A. Do đó xử cho bà B được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu H và cháu A. Bà Bích không yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà B, ông H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này bà B, ông H có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung thì dành quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.

[5] Về án phí: Bà B phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 36; khoản 1 Điều 39; khoản 1, khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị Hồng B được ly hôn với ông Hồ Văn H.

Về quan hệ con chung: Bà Nguyễn Thị Hồng B và ông Hồ Văn H có 02 người con chung là cháu Hồ Thị Minh H, sinh ngày: 17/8/2012 và cháu Hồ Thị Minh A, sinh ngày: 04/10/2015.

Xử cho bà B được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hồ Thị Minh H, sinh ngày: 17/8/2012 và cháu Hồ Thị Minh A, sinh ngày: 04/10/2015.

Bà B không yêu cầu ông H cấp dưỡng để bà B nuôi con chung.

Ông Hồ Văn H được quyền thăm nom con chung mà mình không trực tiếp nuôi dưỡng không ai được quyền ngăn cản.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con hoặc yêu cầu người không trực tiếp nuôi dưỡng con phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà B, ông H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này bà B, ông H có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung thì dành quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hồng B phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ mà bà B đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Đức theo biên lai số 0005901 ngày 17/12/2018, bà B đã nộp xong án phí.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (10-7-2019), đương sự có quyền kháng cáo; đối với bà B, ông H vắng mặt thì thời hạn này được tính kể từ ngày nhận được bản án do Tòa án tống đạt hoặc niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

(Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự).


15
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 37A/2019/HNGĐ-ST ngày 10/07/2019 về yêu cầu ly hôn

Số hiệu:37A/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Đức - Bà Rịa - Vũng Tàu
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:10/07/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về