Bản án 38/2017/HSST ngày 15/08/2017 về tội cố ý gây thương tích

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƯƠNG TỈNH LÂM ĐỒNG  

BẢN ÁN 38/2017/HSST NGÀY 15/08/2017 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 15/8/2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng đã xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 34/2017/HSST ngày 19/7/2017, đối với  bị cáo:

Nguyễn Văn V, sinh năm: 1930; Hộ khẩu thường trú: số 28 Suối Thông  C2 – Tu Tra – Đơn Dương – Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Già yếu; Học vấn: 3/12; Con ông Nguyễn Văn Biểu và con bà Trần Thị Trúp (đã chết); Anh ruột: có 01 ngƣời (đã chết), bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ: Nguyễn Thị Út, sinh năm 1930 hiện ở Lạc Lâm – Đơn Dương – Lâm Đồng; Con: có 07 người, lớn nhất sinh năm 1961, nhỏ nhất sinh năm 1968; Tiền án, tiền  sự:  không; Bị cáo bị  bắt và tạm giữ từ 22/02/2017 đến ngày 03/3/2017 được thay đổi biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại tại số 28 Suối Thông C2 – Tu Tra – Đơn Dương – Lâm Đồng (có mặt)

Người bị hại: Nguyễn Văn D, sinh năm: 1968;

Địa chỉ: Số 42 Lạc Nghiệp – Tu Tra – Đơn Dương – Lâm Đồng. (có mặt)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quanNguyễn Thị Kim Tr, sinh năm: 1977;

Địa chỉ: Suối Thông C2 – Tu Tra - Đơn Dương - Lâm Đồng. (có đơn xin vắng mặt)

NHẬN THẤY

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương,  tỉnh Lâm Đồng truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào tháng 02 năm 2016, Nguyễn Văn V cho ông Hoàng Thế Anh thuê đất để sản xuất đến tháng 02 năm 2018, ông Anh đã giao đủ tiền thuê đất cho V. Sau đó ông Anh chuyển đi nơi khác sinh sống nên đã cho bà Nguyễn Thị Kim Tr thuê lại. Do nghĩ ông Anh không còn ở địa phương và thấy người khác trồng bắp trên đất của mình nên và ngày 21/02/2017 và rạng sáng ngày 22/02/2017, V đã dùng dao chặt 375 m2 cây bắp của bà Trang trồng trị giá 1.050.000 đồng. Bà Trang đã báo cho Công an xã Tu Tra về sự việc trên. Khoảng 07h30 phút ngày 22/02/2017, theo sự phân công của Trưởng công an xã, đồng chí Nguyễn Văn D – Phó Trưởng công an xã cùng 03 đồng chí công an viên mặc trang phục ngành, đeo bảng tên đã đến hiện trường xác minh vụ việc và đến nhà V để yêu cầu V đến công an xã làm việc về hành vi phá hoại tài sản của nguời khác. Sau đó, ông Nguyễn Văn D vào trong nhà và yêu cầu V về xã để làm việc thì V nói “tôi mệt, tôi không đi đâu hết”. Lúc này, phía ngoài cửa có người nói “ông Dư cẩn thận, ông V có dao đó” thì ông Dư ngoảnh lại định bước ra ngoài thì V dùng tay phải cầm dao Thái Lan dài khoảng 20cm, cán màu vàng đâm vào ngực phải và vai phải của ông Dư. Sau đó, V bị khống chế bắt giữ, còn ông Dư được đưa đi bệnh viện cấp cứu.

Kết luận giám định pháp y về thương tích số 117 ngày 01/6/2017 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Lâm Đồng xác định: ông Nguyễn Văn D bị vết thương gian sườn 3-4 đường nách trước bên phải dài 4cm; tràn dịch màng phổi phải dẫn lưu, vết thương mõm vai phải dài 2,5cm, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 12%.

Tại bản cáo trạng số: 33/KSĐT ngày 17/7/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương tỉnh Lâm Đồng đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn V về tội: “Cố ý gây thương tích”, theo quy định tại điểm a, k Khoản 1, Khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương đề nghị áp dụng điểm a, k Khoản 1, Khoản 2 Điều 104; điểm m, p khoản 1 Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999; Khoản 1, Khoản 2 Điều 134, Khoản 3 Điều 7 của Bộ luật hình sự năm 2015, Nghị quyết số 41 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; Đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù giam.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét  toàn diện, đầy đủ chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

XÉT THẤY

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Văn V khai nhận vào sáng ngày 22/02/2017 bị cáo sử dụng xe mô tô đến rẫy đất đã cho vợ chồng anh Hoàng Thế Anh thuê dùng rựa chặt phá khoảng 100m2 diện tích cây bắp sau đó đi về nhà thì lực lượng công an xã đến nhà yêu cầu bị cáo lên trụ sở ủy ban xã làm việc, bị cáo không chấp hành thì lực lượng công an xã kéo bị cáo đi, do mệt và bực tức nên bị cáo đã cầm dao Thái lan ở trên bàn đâm vào người của đồng chí công an 02 nhát vào ngực phải và vai phải, đồng chí công an được mọi người đưa đi cấp cứu, sau đó công an huyện đến đưa bị cáo đến trụ sở công an huyện khai báo sự việc.

Người bị hại ông Nguyễn Văn D trình bày ông là phó công an xã Tu Tra. Vào sáng ngày 22/02/2017 được sự phân công của đồng chí trưởng công an xã điều động ông đến nhà bị cáo V để mời bị cáo về trụ sở ủy ban xã làm việc về đơn thư tố cáo của chị Nguyễn Thị Kim Tr về hành vi phá hoại tài sản của chị Trang. Khi đến nhà bị cáo, ông vào nhà yêu cầu bị cáo cùng lực lượng công an lên trụ sở xã nhưng bị cáo chống đối không chấp hành, ông không có bất cứ hành động gì và quay lưng bước ra khỏi nhà thì bất ngờ bị cáo rút dao Thái lan từ trong người ra xông tới đâm vào ngực phải của ông và tiếp tục đâm 01 nhát vào vùng vai phải phía sau lưng, tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 12%. Tổng số tiền ông đã điều trị thương tích là 57.145.658đ bao gồm tiền thuốc, chi phí khác tại bệnh viện; tiền xe đi lại; tiền công nghỉ điều trị vết thương; tiền mua các vật dụng khi nằm bệnh viện và tiền công người chăm sóc tại bệnh viện; tiền phục hồi sức khỏe và tổn thất tinh thần. Ông yêu cầu bị cáo bồi thường cho ông số tiền trên.

Quá trình điều tra người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Kim Tr trình bày chị đang sử dụng đất thuê của bị cáo, chưa hết thời hạn thuê đất nhưng bị cáo cứ đến đòi đất và phá hoại tài sản trên đất nên chị đã trình báo công xã làm việc với bị cáo về hành vi phá hoại tài sản của chị. Tại phiên tòa chị không có yêu cầu gì đối với bị cáo về hành vi phá hoại tài sản của gia đình chị.

Những người làm chứng có mặt tại phiên tòa đều xác nhận lời khai của người bị hại Nguyễn Văn D là hoàn toàn đúng, đều nhìn thấy bị cáo V dùng dao Thái lan đâm 02 nhát vào người bị hại.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời trình bày của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với lời khai của các nhân chứng chứng kiến sự việc sảy ra cùng các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn V đã dùng hung khí nguy hiểm là con dao Thái Lan gây thương tích 12% cho người bị hại Nguyễn Văn D khi đang thi hành công vụ. Hành vi này của bị cáo đã phạm vào tội: “Cố ý gây thương tích”, quy định tại Khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm hại sức khỏe của người bị hại mà còn góp phần làm xấu đi trật tự xã hội mà chính quyền địa phương đang ra sức giữ sự ổn định. Hành vi dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho người đang thi hành công vụ của bị cáo thể hiện việc bị cáo coi thường pháp luật, vì vậy cần phải có mức xử lý nghiêm minh đối với bị cáo để giáo dục bị cáo thành người có ý thức chấp hành pháp luật.

Qua xem xét cũng nhận thấy trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo thật thà khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải; bị cáo là người già yếu phạm tội nên cần căn cứ điểm m, p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự  xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình là phù hợp. Bị cáo phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 1 Điều 46 nên cũng cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự áp dụng khung hình phạt liền kề nhẹ hơn cho bị cáo khi lượng hình là phù hợp. Do Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 về hành vi cố ý gây thương tích có khung hình phạt nhẹ hơn điều luật cũ; Khoản 2 Điều 134 phạt tù từ 02 đến 05 năm tù còn bộ luật Hình sự năm 1999 đã sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định tại Điều 104 về tội cố ý gây thương tích ở Khoản 2 có khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù. So sánh giữa luật cũ và luật mới thì hình phạt ở luật mới nhẹ hơn hình phạt luật cũ; Căn cứ vào Khoản 3 Điều 7 của bộ luật hình sự năm 2015, Nghị quyết số 41 của Quốc Hội quy định áp dụng pháp luật có lợi cho người phạm tội nên cần áp dụng thêm Khoản 2 Điều 134, Khoản 3 Điều 7 của Bộ luật Hình sự năm 2015, Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội để xử lý hành vi phạm tội của bị cáo là phù hợp. Xét bị cáo hiện đã già yếu và tạo điều kiện cho bị cáo giải quyết việc ly hôn và phân chi tài sản có điều kiện bồi thường cho người bị hại, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nghĩ không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng Điều 60 Bộ luật Hình sự cho bị cáo đƣợc hưởng án treo và phải chịu thời gian thử thách đã đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt cho xã hội.

Đối với hành vi của bị cáo về việc chặt cây bắp của chị Nguyễn Thị Kim Tr do không đủ định lượng để khời tố về tội Hủy hoại tài sản, Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý hành chính là thỏa đáng nên không đề cập đến.

Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đơn Dương đã thu giữ 01 con dao dài Thái Lan, cán nhựa màu vàng, lưỡi kim loại màu trắng là hung khí do bị cáo dùng gây thương tích cho ông Nguyễn Văn D, xét giá trị không lớn cần tịch thu tiêu hủy; đã thu giữ và trả lại 01 áo vải ngắn tay màu cỏ úa, loại xuân hè cho ông Nguyễn Văn D, sau khi nhận lại tài sản ông Dư không yêu cầu đề nghị gì nên không xem xét đến.

Về trách nhiệm dân sự: ông Nguyễn Văn D yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền 57.145.658đ toàn bộ chi phí điều trị thương tích. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường số tiền 57.145.658 đồng cho ông Nguyễn Văn D. Xét thấy việc thỏa thuận bồi thường giữa người bị hại và bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật nên cần buộc bị cáo Nguyễn  Văn V có trách nhiệm bồi  thường cho ông Nguyễn Văn D số tiền 57.145.658đ.

Quá trình điều tra chị Nguyễn Thị Kim Tr không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.050.000 đồng giá trị diện tích bắp bị chặt phá, tại phiên tòa chị Trang vắng mặt nếu sau này có tranh chấp với bị cáo sẽ được giải quyết bằng vụ án dân sự khác.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm về hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm vào tội: “Cố ý gây thương tích ”. Áp dụng Khoản 2 Điều 104, điểm m, p Khoản 1 Điều 46, Điều 47, Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999; Áp dụng Khoản 2 Điều 134, Khoản 3 Điều 7 của Bộ luật hình sự năm 2015, Nghị quyết số 41 ngày 20/6/2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án (15/8/2017)

Giao bị cáo Nguyễn Văn V cho Uỷ ban nhân dân xã Tu Tra, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục; gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong quá trình giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo Khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài Thái Lan, cán nhựa màu vàng, lưỡi kim loại màu trắng sáng rộng 02cm có một đầu nhọn và một lưỡi sắc  (như biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/8/2017 tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện Đơn Dương).

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự, Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự năm 2015. Buộc bị cáo Nguyễn Văn V có trách nhiệm bồi thường cho ông Nguyễn Văn D số tiền 57.145.658đ (Năm mươi bảy triệu một trăm bốn mươi lăm ngàn sáu trăm năm mươi tám đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự.

Về án phí: Căn cứ Điều 98, Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự và Căn cứ theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải chịu 200.000đ án phí sơ thẩm về hình sự và 2.858.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm; tổng cộng bị cáo phải chịu 3.058.000đ tiền án phí.

Báo cho bị cáo, người bị hại biết trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án có quyền kháng cáo; riêng chị Nguyễn Thị Kim Tr được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án (hoặc niêm yết) để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


192
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về