Bản án 38/2017/HSST ngày 18/07/2017 tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG TỈNH THANH HOÁ

BẢN ÁN 38/2017/HSST NGÀY 18/7/2017 TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ

Ngày 18 tháng 7 năm 2017 tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã Hà Thanh, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2017/HSST ngày 24/05/2017 đối với bị cáo:

Lê Công S; Sinh năm 1990; Tại xã B, huyện S, tỉnh Thanh Hoá; Trú tại: Xóm 4, xã B, huyện S, tỉnh Thanh Hoá; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hoá: không đi học; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Công D và bà Lê Thị T, gia đình có 5 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Bị cáo chưa có vợ và con.

Tiền án, tiền sự: Không

Tạm giữ, tạm giam: Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/02/2017 đến ngày 23/02/2017 chuyển tạm giam đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Văn C, sinh năm 1980. Trú tại: xóm 7, xã B, huyện S, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt.

NHẬN THẤY

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào khoảng 14 giờ, ngày 14 tháng 02 năm 2017, tại tiểu khu 3, thị trấn Hà Trung, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, tổ công tác phòng, chống tội phạm về ma túy Công an huyện Hà Trung phối hợp với Công an thị trấn Hà Trung phát hiện, bắt quả tang Lê

Công S đang ngậm trong miệng 01(một) gói nhỏ bên ngoài được bọc bằng ni lon màu trắng, bên trong là giấy trắng, trong cùng có chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục nghi là ma túy và 01 (một) túi nhỏ bằng nilon màu trắng, được hàn kín, bên trong có chứa các hạt dạng tinh thể màu trắng, nghi là ma túy đá. S khai đó là hêrôin và ma túy đá. Kiểm tra trong người S tổ công tác thu giữ 100.000 đồng, kiểm tra xe máy tổ công tác không phát hiện gì thêm. Tổ công tác đã đưa người, phương tiện, vật chứng về Công an thị trấn Hà Trung lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong số tang vật thu giữ.

Tang vật thu giữ gồm: 01 gói nhỏ bên ngoài được bọc bằng nilon màu trắng, bên trong là giấy trắng, trong cùng có chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục; 01 (một) túi nhỏ bằng nilon màu trắng, được hàn kín, bên trong có chứa các hạt dạng tinh thể màu trắng; Tiền ngân hàng Nhà Nước Việt Nam 100.000 đồng; 01 xe mô tô biển số 36N5 - 7821

Tại bản kết luận giám định số: 571/MT-PC54 ngày 17/02/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá kết luận: Chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn trong 01 gói nhỏ của phong bì niêm phong gửi giám định thu giữ khi bắt quả tang có trọng lượng là 0.326g (không phẩy ba trăm hai sáu gam), có Hêrôin. Hêrôin là chất ma túy nằm trong danh mục I, STT 20, Nghị định 82 ngày 19/7/2013 của Chính phủ. Các hạt tinh thể màu trắng trong 01 túi nhỏ của phong bì niêm phong gửi giám định thu giữ khi bắt quả tang có trọng lượng là 0.399g (không phẩy ba chín chín gam), có Methamphetamine..

Quá trình điều tra Lê Công S khai nhận: Khoảng 13 giờ, ngày 14/02/2017, S đi xe máy biển kiểm soát 36N5 - 7821 từ nhà ở xã B, huyện S, tỉnh Thanh Hóa đến huyện Hà Trung với mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. S đi xe máy theo đường 508 lên quốc lộ 1A đi đến cổng nhà máy thuốc lá Thanh Hoá rẽ trái đi vào đường cạnh nhà máy thuốc lá đến ngã ba thôn Thượng Quý, xã Hà Phong, huyện Hà Trung. Tại đây S gặp một người thanh niên khoảng 30 tuổi Sỹ không biết tên và địa chỉ. Người này hỏi S lấy bao nhiêu (S hiểu ý người này hỏi S muốn mua bao nhiêu tiền ma túy). S trả lời là bán cho 01 (một) phân Hêrôin và 400.000 đồng ma túy đá. Người thanh niên này đồng ý và bảo S đưa tiền. S lấy trong người ra 02 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, tổng là 1.000.000 đồng đưa cho người thanh niên này. Cầm tiền xong người thanh niên này lấy từ trong người ra đưa cho S 01 (một) gói Hêrôin được bọc bên ngoài bằng nilon màu trắng, bên trong là giấy trắng, 01 (một) túi ma túy đá bằng nilon màu trắng được hàn kín và tiền Việt Nam 100.000 đồng. S cầm gói Hêrôin và túi nhỏ ma túy đá bỏ vào miệng ngậm lại và cất tiền 100.000 đồng vào trong túi áo đang mặc rồi quay xe máy theo đường cũ để về nhà. Khi đi đến đường cạnh nhà máy thuốc lá thì bị tổ công tác Công an huyện Hà Trung và Công an thị trấn Hà Trung dừng xe máy kiểm tra. Khi S dừng xe, Công an hỏi thì S ú ớ không trả lời được, miệng ngậm lại. Công an yêu cầu S há miệng ra để kiểm tra, phát hiện trong miệng S 01 (một) gói Hêrôin, 01(một) túi ma túy đá, đồng thời yêu cầu S nhả ra để thu giữ. Công an kiểm tra trong người S phát hiện và thu giữ 100.000 đồng, kiểm tra trong xe máy không phát hiện gì thêm. Tổ Công tác đã đưa S, xe máy, tiền và toàn bộ vật chứng về Công an thị trấn lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và lập biên bản tạm giữ đồ vật phương tiện và vật chứng liên quan vụ án.

Tại bản kết luận giám định số: 1408/MT-PC54 ngày 08/7/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá kết luận: Chất bột màu trắng dạng cục vụn niêm phong gửi giám định có hàm lượng Hêrôin là 56,54%. Các hạt tinh thể màu trắng gửi giám định có hàm lượng Methamphetamine là 50,56%

Cáo trạng số 30/CT-VKS ngày 23/5/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Lê Công S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1, Điều 194 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng đã truy tố. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1, Điều 194; Điều 33; điểm p, khoản 1, Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999. Điểm h, khoản 2, Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3, Điều 7; khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo từ 24 tháng đến 30 tháng tù.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo ở giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với vật chứng thu giữ được và bản kết luận giám định đủ cơ sở khẳng định ngày 14/02/2017 Lê Công S đã có hành vi tàng trữ để sử dụng 0,326gam có hêrôin và 0.399gam, có Methamphetamine. Trong đó hàm lượng Hêrôin nguyên chất là 56,54% tương đương với 0,184gam; hàm lượng Methamphetamine nguyên chất là 50,56% tương đương với 0,202gam. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo khoản 1, Điều 194 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Đây là loại chất gây nghiện có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ con người, là một trong những nguyên nhân chính gây ra các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác nên phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội trong một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời để răn đe phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo theo điểm p, khoản 1, Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, với khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ “thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”. Mặc dù Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa có hiệu lực pháp luật song theo quy định tại điểm h, khoản 2, Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội thì đối với các quy định có lợi cho người phạm tội được quy định tại khoản 3, Điều 7 Bộ luật Hình sự 2015 vẫn được áp dụng. Vì vậy, phải căn cứ vào các quy định này để áp dụng hình phạt nhẹ hơn cho bị cáo

Trong vụ án này, bị cáo khai đã mua ma túy tại thôn Thượng Quý, xã Hà Phong của một người thanh niên không biết tên và địa chỉ nên không có cơ sở để xử lý.

Về vật chứng: Số ma túy cơ quan điều tra thu giữ được còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên phải tịch thu tiêu huỷ. Số tiền 100.000 đồng thu của bị cáo là tài sản của bị cáo không phải do phạm tội mà có nên trả lại cho bị cáo. Chiếc xe máy không phải là phương tiện phạm tội và thuộc sở hữu của anh Hoàng Văn C nên phải trả lại cho anh C là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: bị cáo Lê Công S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”

Áp dụng khoản 1, Điều 194; Điều 33; điểm p, khoản 1, Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm h, khoản 2, Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3, Điều 7; điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Lê Công S 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 14/02/2017.

Căn cứ khoản 2, Điều 76 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy là Hêrôin và Methamphetamine còn lại sau giám định, tất cả được đựng trong phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành được dán kín, niêm phong (Đặc điểm của phong bì niêm phong theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Tòa án nhân dân huyện Hà Trung và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hà Trung ngày 14/7/2017).

Trả lại cho bị cáo số tiền 100.000 đồng theo biên lai thu số AA/2010/007271 ngày 26/5/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.

Trả lại cho anh Hoàng Văn C 01 chiếc xe máy, biển kiểm soát 36N5-7821, nhãn hiệu Honda Wave S, màu đen, không có gương chiếu hậu, yên xe bị rách rời, bình xăng không nắp, xe đã cũ, không kiểm tra máy không rõ tốt xấu, số máy: VLF1P52FMH- 370192207, số khung: RNUVCHTUM7A192207.

Căn cứ Điều 99 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 6, Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Lê Công S phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Anh Hoàng Văn C có quyền kháng cáo bản án phần liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.


34
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về