Bản án 38/2017/HS-ST ngày 18/08/2017 về tội hủy hoại rừng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH QUẢNG NAM

BẢN ÁN 38/2017/HS-ST NGÀY 18/08/2017 VỀ TỘI HỦY HOẠI RỪNG

Hôm nay ngày 18/08/2017, ttại trụ sở TAND huyện M, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 29/2017/HSST nàay 28 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo:

- Lý Văn T, sinh năm 1970; trú tại thôn T, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Nam;

trình độ văn hóa: không biết chữ; nghề nghiệp: nông; con ông Lý Văn Í (chết) và bà Nguyễn Thị H (SN:1926), hiện già yếu và trú tại thôn T, xã Đại , huyện M, tỉnh Quảng Nam; có vợ là bà Võ Thị H (SN:1971), hiện làm nông và trú tại thôn T, xã Đ huyện M, tỉnh Quảng Nam; có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1993, con nhỏ nhất sinh năm 1999; tiền án tiền sự: chưa; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Thi: Ông Bùi Anh Nam – Luật sư văn phòng Luật sư Quảng Tín thuộc đoàn luật sư tỉnh Quảng Nam, có mặt

- Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt có lý do

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Lê Công N, sinh năm 1956, có mặt HKTT thôn P, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Nam Trú Tại thôn N, xã Đ, huyện m, tỉnh Quảng Nam

2. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1996, có mặt

3. Ông Võ Văn V, sinh năm 1997, có mặt

4. Ông Trần Trung H, sinh năm 1981, vắng mặt

5. Ông Võ B, sinh năm 1965, có mặt

6. Ông Võ Văn L, sinh năm 1993, vắng mặt

7. Ông Tô B, sinh năm 1980, vắng mặt

8. Ông Lý Văn Bắ, sinh năm 1968, có mặt

Cùng trú tại thôn T, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Nam

9. Ông Trần Phước L, sinh năm 1983, có mặt

10. Ông Trần Xuân H, sinh năm 1979, vắng mặt

11. Ông Tô Văn H, sinh năm 1984, có mặt

12. Ông Lê Công N, sinh năm 1984, có mặt

Cùng trú tại thôn N, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Nam.

13. Ông Phan Văn H, sinh năm 1970, vắng mặt

14. Ông Lê Công T, sinh năm 1968, vắng mặt

15. Bà Đặng Thị N, sinh năm 1940, vắng mặt

16. Bà Lê Thị É, sinh năm 1968, vắng mặt

17. Ông Lê Công Tr, sinh năm 1988, vắng mặt

18. Ông Nguyễn Cao C, sinh năm 1971, vắng mặt

Cùng trú tại thôn B, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Nam

19. Bà Đào Thị N, sinh năm 1975, có mặt

20. Bà Lê Thị H sinh năm 1970, vắng mặt

Cùng trú tại thôn T, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Nam

21. Ông Võ Thanh L, sinh năm 1984, vắng mặt

Trú tại thôn M, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Nam

22. Bà Lê Thị B, sinh năm 1970, vắng mặt

Trú tại thôn 3, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam

23. Ông Lê Văn V, sinh năm 1979, vắng mặt

Trú tại thôn M, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Nam

24. Ông Dương Bả, sinh năm 1978, có mặt

Trú tại thôn T xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Nam

25. Ông Trương Đức Đ, sinh năm 1974, vắng mặt

Trú tại khu 5, thị trấn Đ, huyện M, tỉnh Quảng Nam.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Ngày 28/8/2014, UBND xã Đ kiểm tra và phát hiện tại khoảnh 7, tiểu khu 207 thuộc thôn T, xã Đ, huyện M có vụ phá rừng trái phép. Hạt kiểm lâm phối hợp với các cơ quan chức năng huyện M tiến hành kiểm tra hiện trường, xác định: Diện tích rừng bị chặt phá 83.889 m2 rừng tự nhiên, loại rừng phục hồi có trữ lượng, rừng nghèo, chức năng là rừng phòng hộ; Lâm sản bị thiệt hại gồm gỗ tròn thuộc các nhóm I, III, IV, V, VI, VII, VIII khối lượng 86,524 m3.

Qua quá trình điều tra xác định nội dung vụ án như sau: Khoảng tháng 8/2014, Lý Văn Thi đốt than hầm tại khu vực Dốc Dạo thì phát hiện rừng ở khu vực này đã bị một số người (không rõ tên, địa chỉ) chặt phá trồng keo. T nảy sinh ý định chặt phá rừng để trồng keo. Khoảng 2 ngày sau, T mang theo rựa vào khu vực này để phát rừng. Thi phát rừng khoảng 3 ngày thì Lê Công N biết nên nói “Cho tôi phát với” thì T trả lời “Anh có phát thì phát chứ xin chi”. Sau đó, Lê Công N, Lý Văn T cùng vào khu vực Dốc Dạo thuộc khoảnh 7, tiểu khu 207, thôn T, xã Đ chặt phá rừng. Lý Văn T phá hại 120 cây gỗ, củi trên diện tích 26.460 m2; Lê Công N phá một bên gây thiệt hại 100 cây gỗ, củi trên diện tích 18.895 m2. Lý Văn T thuê Trần Phước L dùng cưa lốc hạ những cây lớn mà T không thể chặt bằng rựa cầm tay. Sau đó rừng bị cháy (chưa xác định được người đốt).

Ngày 19/6/2017, Đoàn kiểm tra liên ngành huyện M, UBND xã Đ, Lê Công N, Lý Văn T cùng tiến hành kiểm tra lại hiện trường tại khoảnh 7, tiểu khu 207 xã Đ do N, T chặt phá và diện tích rừng bị cháy lan. Tuy nhiên, thời gian chặt đã lâu nên đoàn kiểm tra không thể xác định được cụ thể từng loại cây và gốc cây. Do đó, cơ quan điều tra Công an huyện Đ trưng cầu định giá thiệt hại đối với diện tích rừng bị chặt phá trên cơ sở bản kê chi tiết của Lý Văn T.

Ngày 10/7/2017, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện M xác định thiệt hại trong vụ phá hủy 26.460m2 rừng là rừng tự nhiên, rừng nghèo kiểu trạng thái IIB có chức năng phòng hộ, tại khoảnh 7, tiểu khu 207 thuộc xã Đ, huyện M , tỉnh Quảng Nam, gồm:

+ Giá trị thiệt hại 2,278 m3 gỗ tròn: 4.748.000 đồng

+ Giá trị thiệt hại về môi trường: 18.992.000 đồng

+ Giá trị thiệt hại về củi: 490.800 đồng. Tổng giá trị thiệt hại: 24.230.800 đồng.

Vật chứng của vụ án thu giữ:

Một cái rựa có lưỡi rựa bằng kim loại (sắt) dài 27cm, đầu mũi rựa có mấu cong, bề rộng của lưỡi rựa là 3,5cm; cán rựa làm bằng cây tre có đường kính là 2,5cm, dài 31cm. Vật chứng được niêm phong và có chữ ký của Lý Văn T. (Vật chứng hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện M quản lý)

Sau khi vụ án xảy ra, UBND xã Đ yêu cầu Lý Văn T phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho Nhà nước.

Quá trình điều tra, Lý Văn T đã nhiều lần thay đổi lời khai, không thừa nhận diện tích và thiệt hại do mình gây ra nhưng thừa nhận hành vi phá rừng tại khoảnh 7, tiểu khu 207, thôn T, xã Đ, huyện M. Hiện nay bị cáo Thi thừa nhận hành vi chặt phá 26.640m2 với 120 cây gỗ, củi. Tổng thiệt hại được xác định là 24.230.800 đồng.

Tại bản cáo trạng số 28/CT-VKS ngày 28/7/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố bị cáo Lý Văn Tvề tội “Hủy hoại rừng” theo quy định tại điểm b khoản 3, Điều 189 Bộ Luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 3 Điều 189 điểm b, điểm p, khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47, Điều 60 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Lý Văn T từ 30 đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo Lý Văn T: Thống nhất với quan đểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M, vì bản thân bị cáo T đã thừa nhận hành vi phạm tội. Mục đích của bị cáo là muốn phát phát dọn những khu vực rừng nghèo để trồng keo lá tràm, tạo việc làm, phát triển kinh kinh tế gia đình. Nhưng không biết khu vực này là rừng phòng hộ và thiếu hiểu biết về pháp luật, chứ không cố ý hủy hoại rừng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về động cơ, mục đích nêu trên của bị cáo, xem xét về nhân thân của bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo không biết chữ, nhận thức có phần hạn chế. Đề nghị HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại các điểm b, p, khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47, Điều 60 Bộ luật hình sự cho bị cáo Lý Văn T được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lý Văn T công khai nhận hành vi phạm tội: Khoảng tháng 8/2014, Lý Văn Thi đốt than hầm tại khu vực Dốc Dạo thì phát hiện rừng ở khu vực này đã bị một số người (không rõ tên, địa chỉ) chặt phá trồng keo. T nảy sinh ý định chặt phá rừng để trồng keo. Khoảng 2 ngày sau, thấy Lý Văn T mang theo rựa vào khu vực này Dốc Dạo thì Lê Công N biết nên nói “Cho tôi phát với” thì Ttrả lời “Anh có phát thì phát chứ xin chi”. Sau đó, Lê Công N, Lý Văn T cùng vào khu vực Dốc Dạo thuộc khoảnh 7, tiểu khu 207, thôn T, xã Đ chặt phá rừng. Lý Văn T phá hại 120 cây gỗ, củi trên diện tích 26.460 m2

Hành vi của bị cáo Lý Văn T phạm vào tội “Hủy hoại rừng” theo quy định tại điểm b khoản 3, Điều 189 Bộ luật hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện M đã truy tố.

Lời nhận tội nêu trên của bị cáo đối chiếu thấy phù hợp với lời khai, phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lý Văn Tphạm tội “Hủy hoại rừng” theo quy định tại điểm b khoản 3, Điều 189 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra thì thấy: Bị cáo là người đã đủ tuổi trưởng thành, có năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, nhưng chỉ vì mục đích kiếm đất làm nương rẫy trồng keo lá tràm, mà bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, đặc biệt là rừng phòng hộ. Hành vi phá rừng của bị cáo xâm hại đến tài nguyên quý báu của đất nước, là bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái, có giá trị to lớn đối với nền kinh tế quốc dân, gắn liền với đời sống của nhân dân. HĐXX xét thấy cần phải xử lý nghiêm minh đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét về nhân thân thì thấy bị cáo chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã khắc phục một phần hậu quả, gia đình bị cáo thuộc diện khó khăn, bị cáo không biết chữ, nhận thức có phần hạn chế, bản thân là lao động chính trong gia đình. Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M và quan điểm của luật sư, giảm cho bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình và nghĩ phạt tù nhưng cho bị cáo T được hưởng án treo.

Về dân sự: Số tiền bị cáo phải bồi thường là 24.230.800 đồng (Hai mươi bốn triệu hai trăm ba mươi ngàn tám trăm đồng) bị cáo đã bồi thường được 835.600 đồng (Tám trăm ba mươi lăm ngàn sáu trăm đồng). Hội đồng xét xử nghĩ tuyên buộc bị cáo Thi tiếp tục bồi thường thiệt hại cho Nhà nước số tiền 23.395.200 đồng (Hai mươi ba triệu ba trăm chín mươi lăm ngàn hai trăm đồng). Về diện tích rừng 26.460 m2 do Lý Văn T hủy hoại, bị cáo Thi khai chưa trồng cây và cây tự nhiên đã mọc lại và khu vực đất rừng xung quanh bị cháy lan đã có người trồng cây nhưng bị cáo không biết ai trồng. HĐXX nghĩ không thể tịch thu mà nghĩ nên giao diện tích rừng 26.460 m2 do Lý Văn T hủy hoại và khu vực đất rừng xung quanh bị cháy lan cho UBND xã Đ quản lý theo thẩm quyền được Nhà nước giao.

Về vật chứng: Hội đồng xét xử nghĩ nên tuyên tịch thu tiêu hủy 01 cái rựa có lưỡi rựa bằng kim loại (sắt) dài 27cm, đầu mũi rựa có mấu cong, bề rộng của lưỡi rựa là 3,5cm; cán rựa làm bằng cây tre có đường kính là 2,5cm, dài 31cm. Vật chứng được niêm phong và có chữ ký của Lý Văn T. (Vật chứng hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mquản lý).

Về án phí:

Án phí hình sự sơ thẩm buộc bị cáo Lý Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).

Án phí dân sự sơ thẩm buộc bị cáo Lý Văn Tphải chịu 1.169.000 đồng (Một triệu một trăm sáu mươi chín ngàn đồng).

Tại hồ sơ và tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều khai do ông Lê Công N và Lý Văn T nhờ đứng tên nhận diện tích phá rừng dưới 3.000 m2, nhưng khi được các cơ quan điều tra làm việc thì họ mới hiểu và từ chối nhận thay chứ không có quyền lợi, nghĩa vụ gì liên quan, nên Hội đồng xét xử không đề cập.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Lý Văn T phạm tội “Hủy hoại rừng” theo quy định tại điểm b khoản 3, Điều 189 Bộ luật hình sự.

Áp dụng điểm b khoản 3, Điều 189, điểm b, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47, Điều 60 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lý Văn T 3 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 5 (Năm) năm. Giao bị cáo Lý Văn T cho UBND xã Đ quản lý giáo dục trong thời gian thử thách án treo.

Về dân sự : Căn cứ Điều 42 Bộ luật hình sự, Điều 589 Bộ luật dân sự, Hội đồng xét xử tuyên buộc bị cáo Lý Văn T bồi thường số tiền 24.230.800 đồng (Hai mươi bốn triệu hai trăm ba mươi ngàn tám trăm đồng), bị cáo đã bồi thường được số tiền 835.600 đồng (Tám trăm ba mươi lăm ngàn sáu trăm đồng) theo biên lai thu số 003550 ngày 16/11/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, bị cáo T phải tiếp tục bồi thường thiệt hại cho Nhà nước mà trực tiếp là bồi thường cho UBND xã Đ số tiền 23.395.200 đồng (Hai mươi ba triệu ba trăm chín mươi lăm ngàn hai trăm đồng). Giao diện tích rừng 26.460 m2 do Lý Văn T hủy hoại và khu vực đất rừng xung quanh bị cháy lan cho UBND xã Đ quản lý theo thẩm quyền được Nhà nước giao.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 42 Bộ luật hình sự, Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tiêu hủy 01 cái rựa có lưỡi rựa bằng kim loại (sắt) dài 27cm, đầu mũi rựa có mấu cong, bề rộng của lưỡi rựa là 3,5cm; cán rựa làm bằng cây tre có đường kính là 2,5cm, dài 31cm. Vật chứng được niêm phong và có chữ ký của Lý Văn T. (Vật chứng hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện M quản lý).

Về án phí: Buộc bị cáo Lý Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.169.000 đồng (Một triệu một trăm sáu mươi chín ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa và trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm.


48
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 38/2017/HS-ST ngày 18/08/2017 về tội hủy hoại rừng

    Số hiệu:38/2017/HS-ST
    Cấp xét xử:Sơ thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bắc Trà My - Quảng Nam
    Lĩnh vực:Hình sự
    Ngày ban hành:18/08/2017
    Là nguồn của án lệ
      Bản án/Quyết định sơ thẩm
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về