Bản án 38/2018/HNGĐ-ST ngày 10/07/2018 về tranh chấp hôn nhân gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 38/2018/HNGĐ-ST NGÀY 10/07/2018 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

Ngày 10 tháng 07 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 101/2018/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 04 năm 2018 về việc tranh chấp “Hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2018/QĐXXST- HNGĐ ngày 11 tháng 06 năm 2018 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D - sinh năm 1990.

- Trú quán: Khu H - Thị trấn C - Huyện LN- Bắc Giang.

* Bị đơn: Anh Nguyễn Tuấn A - Sinh năm 1988.

- Trú quán: Khu H - Thị trấn C - Huyện LN- Bắc Giang. Chị D có mặt, anh Tuấn Anh vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 5/04/2018 và những lời khai của nguyên đơn chị Nguyễn Thị D lời khai của bị đơn anh Nguyễn Tuấn A và trong quá trình xét xử nội dung vụ án như sau:

Chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Tuấn A kết hôn vào tháng 8 năm 2010. Trước khi kết hôn hai bên có được tự do tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo đúng phong tục địa phương. Chị D anh Tuấn A có đến Ủy ban nhân dân xã T, huyện LN đăng ký kết hôn. Sau ngày cưới chị D anh Tuấn Anh về chung sống cùng nhau ngay và ở tại Khu H - Thị trấn C - Huyện LN- Bắc Giang. Tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận hạnh phúc. Chị D cho rằng hai vợ chung sống với nhau đến tháng 3/2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do không hợp nhau, vợ chồng không có sự quan tâm chia sẻ trong cuộc sống, có nhiều bất đồng quan điểm sống không có tiếng nói chung, anh Tuấn A sa đà vào tệ nạn xã hội nghiện hút và bị phạt tù phải đi cải tạo. Anh Tuấn A xác định vợ chồng có mâu thuẫn không quan tâm tới nhau có níu kéo nhưng không có kết quả. Anh Tuấn A và chịu D sống ly thân từ tháng 4/2014 đến nay. Nay chị D xác định tình cảm vợ chồng với anh Tuấn A không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Tuấn A. Anh Tuấn A đồng ý ly hôn với chị D.

Về con chung: Trong quá trình chung sống chị D anh Tuấn A có 01 con chung là cháu Nguyễn Hoàng L - Sinh ngày 24/8/2012. Vợ chồng ly hôn chị D nhận nuôi cháu Hoàng L, không đề nghị anh Tuấn A phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị. Anh Tuấn A đồng ý.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị D, anh Tuấn A đều xác nhận không có tài sản chung, không liên quan vay nợ ai. Không đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản công nợ.

Tại phiên tòa chị D vẫn giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện. Đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Tuấn A và giải quyết việc nuôi con chung. Anh Tuấn A vắng mặt tại phiên tòa tuy nhiên trong lời khai của mình anh xác định tình cảm vợ chồng với chị D không còn, chị D xin ly hôn anh đồng ý. Về con chung anh đồng ý để chị D nhận nuôi con chung, không đề nghị giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về thủ tục tố tụng của Toà án trong quá trình thụ lý cũng như giải quyết vụ án và sự chấp hành pháp luật của các đương theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định về tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

Nguyên sự đã chấp hành đúng các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đầy đủ các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình tại các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 56, Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân gia đình.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị D.

Cho chị Nguyễn Thị D được ly hôn với anh Nguyễn Tuấn A.

Giao cho chị Nguyễn Thị D nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Nguyễn Hoàng L - Sinh ngày 24/8/2012. Việc cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản, công nợ không đặt ra xem xét giải quyết

Về án phí chị Nguyễn Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Chị Nguyễn Thị D khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết ly hôn, con chung với anh Nguyễn Tuấn A. Đây là quan hệ tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Tại phiên tòa anh Tuấn A vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Tuấn A.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Chị D anh Tuấn A tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau vào năm 2014 có đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện LN, tỉnh Bắc Giang. Quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn. Chị D làm đơn đề nghị giải quyết ly hôn với anh Tuấn A. Trong quá trình làm việc cũng như tại phiên Tòa ngày hôm nay chị D kiên quyết ly hôn, không muốn quay về đoàn tụ với anh Tuấn A, chị đề nghị xin được ly hôn với anh Tuấn A, anh Tuấn A đồng ý ly hôn theo nguyện vọng của chị D. Hội đồng xét xử nhận thấy chị D, anh Tuấn A có mâu thuẫn với nhau trong cuộc sống, do hai bên không quan tâm tới nhau, không hiểu nhau làm cho tình cảm rạn nứt, cuộc sống không có hạnh phúc. Hai bên có liên lạc níu kéo nhưng không có kết quả, vợ chồng không ai còn quan tâm tới ai. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị D anh Tuấn A mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy Hội đồng xét xử cần chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của chị D. Cho chị D được ly hôn với anh Tuấn A theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

[3] Về con chung:

Chị D anh Tuấn A có 01 con chung là: Cháu Nguyễn Hoàng L - Sinh ngày 24/8/2012. Xét thấy cháu Nguyễn Hoàng L là con chung duy nhất của chị D và anh Nguyễn Tuấn A do vậy chị D và anh Tuấn A đều có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, giáo giục để cháu L phát triển lành mạnh về thể chất, tinh thần, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. Chị D nhận nuôi con cháu L khi vợ chồng ly hôn, không đề nghị giải quyết cấp dưỡng nuôi con, anh Tuấn A đồng ý để chị D nuôi con chung không đề nghị giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con. Do vậy cần giao cháu Lo cho chị D nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân gia đình. Việc cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung, công nợ chung: Chị D anh Tuấn A không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, công nợ chung. Nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

* Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 56, Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân gia đình.

Căn cứ các Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị D

1. Cho chị Nguyễn Thị D được ly hôn với anh Nguyễn Tuấn A.

2. Giao cho chị Nguyễn Thị D nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Nguyễn Hoàng L - Sinh ngày 24/8/2012. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn anh Nguyễn Tuấn A được quyền đi lại thăm nuôi cháu L không ai được ngăn cản anh Tuấn A thực hiện quyền này.

3. Về tài sản chung, công nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận chị D đã nộp số tiền 300.000 đồng tiền dự phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn theo biên lai thu số: AA/2016/0003329 ngày 19/4/2018. Khoản tiền này chuyển thành án phí.

Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.


27
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 38/2018/HNGĐ-ST ngày 10/07/2018 về tranh chấp hôn nhân gia đình

Số hiệu:38/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lục Ngạn - Bắc Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:10/07/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về