Bản án 38/2018/HSST ngày 16/05/2018 về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 38/2018/HSST NGÀY 16/05/2018 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Ngày 16 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 31/2018/HSST ngày 11 tháng 4 năm 2018, quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/HSST-QĐXX ngày 02 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

Đoàn Trọng H, sinh năm 1990 tại thị trấn A, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Nơi cư trú: Tổ 13, thị trấn A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Kỹ sư nông nghiệp; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; bố đẻ: Ông Đoàn Trọng Ng, sinh năm 1954; mẹ đẻ: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1957; vợ là: Lê Thị Huyền T, sinh năm 1990, con: có 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2017; tiền sự, tiền án: Không. Nhân thân: Từ năm 2008 đến năm 2012 học tại trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội. Hiện đang công tác tại Công ty Cổ phần N Thái Bình. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/01/2018 cho đến nay  (Bị cáo có mặt tại phiên toà)

* Người bị hại: Ông Đàm Quang Kh, sinh năm 1957

Trú tại: Thôn L, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình (đã chết).

* Người đại diện hợp pháp cho người bị hại:

1- Bà Chu Thị N, sinh năm 1929 (Mẹ đẻ ông Kh)

Trú tại: Thôn L, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình

2- Chị Đàm Thị Mỹ H, sinh năm 1992 (Con ông Kh)

3- Anh Đàm Quang A, sinh năm 1995 (Con ông Kh)

Đều trú tại: Số nhà 34, tổ 14, phường T, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên

 (Bà N, chị H, anh A đều vắng mặt tại phiên toà)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đoàn Trọng Ng, sinh năm 1954

Trú tại: Tổ 13, thị trấn A, huyện Q, tỉnh Thái Bình

 (Ông Ng có mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đoàn Trọng H có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 do Sở giao thông vận tải tỉnh Thái Bình cấp ngày 26/7/2010. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 04/11/2017, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Future F1 BKS 17B5-112.15 đi từ xã An Đồng về thị trấn An Bài, huyện Quỳnh Phụ. Đến khoảng 20 giờ, H đi xe đến đoạn đường DH 72 thuộc địa phận thôn Lương Cầu, xã An Cầu, huyện Quỳnh Phụ thì xảy ra tai nạn giao thông. Đây là đoạn đường chạy thẳng theo hướng Tây - Đông có chiều đi từ xã An Đồng đi xã An Ninh, huyện Quỳnh Phụ, mặt đường trải đá nhựa tương đối bằng phẳng đo rộng 08m được chia thành 02 chiều riêng biệt. Giữa hai chiều đi được phân chia bằng vạch sơn trắng kẻ đứt quãng rộng 0,1m. Tâm vạch cách lề đường 04m. Tiếp giáp mép đường bên phải theo chiều An Đồng đi An Ninh là lề đường đất cỏ mọc rộng 1,7m; mặt lề đường cao bằng mặt đường, tiếp đến là đường nhánh rẽ vào thôn Lương Cầu, xã An Cầu được trải đá, láng nhựa tương đối bằng phẳng rộng 03m, có độ mở ra đường DH 72 đo 09m, tiếp đến là khu vực cánh đồng. Tiếp giáp mép đường bên trái là lề đường đất đo rộng 01m, mặt lề đường cao bằng mặt đường, tiếp đến là mương dẫn nước và khu vực cánh đồng. Lúc này trời tối, không mưa, mật độ người và phương tiện tham gia giao thông thưa thớt. H khai điều khiển xe mô tô đi với tốc độ khoảng 35-40km/h, phía trước ngược chiều đi của H có 01 xe ô tô tải loại 3,5 tấn, màu xanh, bật đèn chiếu xa và đi ở phần giữa đường nên H đánh lái sang phải theo chiều đi để tránh xe tải. Khixe tải vừa qua thì H phát hiện thấy phía trước  cách xe của H 4-5 mét có ông Đàm Quang Kh đang đi bộ cùng chiều đi của H cách mép đường bên phải khoảng 60cm. Do khoảng cách quá gần nên phần đầu xe mô tô H điều khiển đã đâm vào phía sau ông Kh làm xe đổ, H bị ngã ra lề đường bên phải bị thương ở mắt chảy nhiều máu không mở được mắt, còn ông Kh ngã như thế nào, xe mô tô đổ ở vị trí nào trên đường H không rõ. H và ông Kh được mọi người đưa đi cấp cứu. Đến ngày 13/11/2017, H biết ông Kh đã tử vong. Quá trình giải quyết, H đã bồi thường cho gia đình ông Kh số tiền 120.000.000 đồng.

Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 42 PY/PC54 ngày 17/11/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Các dấu hiệu chính qua giám định tử thi ông Đàm Quang Kh: “Đa chấn thương vùng đầu và toàn thân do tai nạn giao thông làm vỡ xương sọ vùng chẩm, qua khe vỡ máu đang chảy ra nhiều; gẫy xương quay tay trái. Nạn nhân chết do chấn thương sọ não”.

Bản cáo trạng số 39/VKSQP ngày 11 tháng 4 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo Đoàn Trọng H về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Đoàn Trọng H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đoàn Trọng H phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Áp dụng khoản 1 Điều 202; các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 45; Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999; xử phạt bị cáo Đoàn Trọng H từ 12 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 36 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, trả lại cho bị cáo một giấy phép lái xe hạng A1.

Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quỳnh phụ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, người đại diện hợp pháp cho người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về áp dụng pháp luật: Thời điểm xét xử vụ án, Bộ luật hình sự năm 2015 đã có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14, cần áp dụng các quy định tại Bộ luật hình sự năm 1999 để xét xử bị cáo vì hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện trước thời điểm Bộ luật hình sự năm 2015 có hiệu lực pháp luật.

[3] Bị cáo Đoàn Trọng H đã có hành vi vào khoảng 20 giờ ngày 04/11/2017, tại đoạn đường DH 72 thuộc địa phận thôn Lương Cầu, xã An Cầu, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, Đoàn Trọng H điều khiển xe mô tô BKS 17B5- 112.15 theo hướng xã An Đồng đi thị trấn An Bài trong điều kiện trời tối, tránh xe ngược chiều, tầm nhìn bị hạn chế đã không giảm tốc độ xuống đến mức không còn nguy hiểm, không tuân thủ các quy định về tốc độ xe đã gây tai nạn giao thông với ông Đàm Quang Kh đang đi bộ phía trước cùng chiều. Hậu quả: Ông Kh được đưa đi cấp cứu và tử vong ngày 13/11/2017. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng và được chứng minh bằng các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Sơ đồ hiện trường và biên bản khám nghiệm hiện trường; biên bản khám nghiệm phương tiện, bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 42 PY/PC 54 ngày 17/11/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; lời khai của người làm chứng và toàn bộ tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hành vi của bị cáo Đoàn Trọng H đã vi phạm vào khoản 2 Điều 5 Thông tư liên tịch số 91/2015/TT- BGTVT ngày 31/12/2015 của Bộ giao thông vận tải và khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ. Do đó, bị cáo Đoàn Trọng H đã phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 có khung hình phạt: phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi điều khiển xe mô tô không tuân thủ về tốc độ xe gây tai nạn làm chết người của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm an toàn, sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ, xâm phạm tính mạng của người khác. Chính vì vậy, cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, thấy: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình người bị hại; có thái độ khai báo thành khẩn, người đại diện hợp pháp cho người bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; lần đầu phạm tội, có nơi cư trú rõ ràng và có khả năng tự cải tạo bản thân, do đó không cần thiết cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 60 của Bộ luật hình sự năm 1999 giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng có tác dụng giáo dục bị cáo và cũng để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật.

[5] Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”. Tuy nhiên, hành vi điều khiển xe mô tô gây tai nạn của bị cáo không liên quan đến nghề nghiệp của bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình người bị hại đã thống nhất thoả thuận xong việc bồi thường (bị cáo bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình người bị hại với tổng số tiền là 120.000.000 đồng) và không ai có yêu cầu giải quyết về trách nhiệm dân sự. Ông Đoàn Trọng Ng là chủ sở hữu chiếc xe mô tô mà bị cáo điều khiển đã nhận lại tài sản và cũng không có yêu cầu gì, do đó Hội đồng xét xử không xét.

[7] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra quản lý của bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng A1; số AP 287318 do Sở giao thông vận tải tỉnh Thái Bình cấp ngày 26/7/2010 mang tên Đoàn Trọng H. Do không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo nên tuyên trả lại giấy phép lái xe cho bị cáo là phù hợp với Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Future F1 BKS 17B5- 112.15 do bị cáo điều khiển, quá trình điều tra xác định chiếc xe thuộc sở hữu hợp pháp của ông Đoàn Trọng Ng là bố đẻ bị cáo. Sau khi khám nghiệm phương tiện xong, cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe cho ông Ng.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Trọng H phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Áp dụng khoản 1 Điều 202, các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, các Điều 45; khoản 1, 2 Điều 60 của Bộ luật hình sự năm 1999,

Xử phạt bị cáo Đoàn Trọng H 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (Ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đoàn Trọng H cho Uỷ ban nhân dân thị trấn A, huyện Q, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật hình sự năm 2015,

Tuyên trả lại bị cáo Đoàn Trọng H một giấy phép lái xe số AP 287318 do Sở giao thông vận tải tỉnh Thái Bình cấp ngày 26/7/2010.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án

Bị cáo Đoàn Trọng H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Những người đại diện hợp pháp cho người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.


117
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về