Bản án 38/2018/HS-ST ngày 17/09/2018 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH

BẢN ÁN 38/2018/HS-ST NGÀY 17/09/2018 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 17 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2018/TLST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2018/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:

Đinh Thị D – Sinh ngày 20 tháng 02 năm 1977 tại thành phố T, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: Tổ dân phố Gh, phường Y, thành phố T, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Đại lý bán vé xổ số; Trình độ văn hóa 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Đức G và bà Nguyễn Thị D; bị cáo có chồng và 03 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/6/2018 đến ngày 15/6/2018 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 41/2018/HSST-LCĐKNCT ngày 17 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 

Ông Phạm Văn L – Sinh năm 1956

Địa chỉ: Tổ dân phố Gh, phường Y, thành phố T, tỉnh Ninh Bình; Vắng mặt.

Anh Bùi Văn Đ - Sinh năm: 1997

Địa chỉ: Xóm 3, xã Ng, huyện Ng, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt).

Anh Phạm Văn T - Sinh năm 1998.

Địa chỉ: Thôn C, phường L, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt).

- Người làm chứng: Anh Phạm Văn Định - sinh năm: 1989 (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đinh Thị D, là đại lý bán vé xổ số cho Công ty TNHH một thành viên xổ số kiến thiết Ninh Bình chi nhánh thành phố T. Khoảng 16 giờ ngày 13/6/2018, Đinh Thị D ngồi bán vé số trước cửa nhà ông Phạm Văn L thuộc tổ dân phố Gh, phường Y, thành phố T, tỉnh Ninh Bình, đồng thời bán số lô, số đề cho khách qua đường để thu lợi cá nhân, với mức thắng thua: số lô mua một điểm tương ứng với 23.000 đồng nếu trúng được 80.000 đồng, số đề 2 số mua 1.000 đồng nếu trúng thưởng được 70.000 đồng, số đề 3 số mua 1.000 đồng nếu trúng thưởng sẽ được 400.000 đồng.

Khoảng 17 giờ cùng ngày Phạm Văn T, sinh năm 1998 trú tại thôn C, phường L, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa và Bùi Văn Đ, sinh năm 1997 trú tại xóm 3, xã Ng, huyện Ng, tỉnh Thanh Hóa đến hỏi mua số lô, số đề, Đinh Thị D đồng ý bán cho Phạm Văn T 150 điểm lô gồm các số lô 89, 98, 92 (mỗi số 50 điểm) tương ứng với số tiền 3.450.000 đồng; bán cho Bùi Văn Đ 100 điểm lô gồm các số 60, 95 (mỗi số 50 điểm) và hai số đề 79, 89 mỗi số 15.000 đồng tương ứng với số tiền 2.330.000 đồng. Đinh Thị D ghi các số lô, số đề mà T và Đ mua vào một quyển sổ để theo dõi, khi ghi vào sổ D đã đặt giấy than bên dưới để in các số lô, số đề của T và Đ mua rồi đưa cho T và Đ hai tờ giấy được in qua giấy than cho T và Đ (gọi là tờ cáp đề). Khi Đinh Thị D đưa hai tờ cáp đề cho T, Đ và đang nhận tiền thì bị tổ công tác của cơ quan Công an thành phố Tam Điệp phát hiện bắt quả tang thu giữ của D số tiền 6.809.000 đồng, một quyển sổ có kích thước (10,2 x 7 x 0,7) cm, một chiếc bút bi vỏ mầu trắng, mực mầu đen trên thân bút có dòng chữ “matixs Fo – 024” và một tờ giấy than đã qua sử dụng có kích thước (10,3 x 7,3) cm: thu giữ của T và Đ 02 tờ giấy có kích thước (10,2 x 7) cm có ghi các số lô, số đề mà D đã bán cho T và Đ. Đồng thời thu giữ của D một ghế nhựa mầu đỏ có kích thước (32 x 32 x 61) cm dạng ghế ngồi tựa và một bàn bằng kim loại có kích thước (75 x 45 x 61) cm dạng bàn xếp hình chữ X mặt bàn hình chữ nhật mầu xanh. Quá trình điều tra, Đinh Thị D khai nhận chiều ngày 13/6/2018 đã bán cho T và Đ số lô, số đề và thu được số tiền 5.780.000 đồng.

Quá trình điều tra, bị cáo Đinh Thị D đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản Cáo trạng số 40/CT-VKS-TPTĐ ngày 16 tháng 8 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Đinh Thị D ra trước Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp để xét xử về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 và khoản 3 điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp tại phiên tòa sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, xem xét hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đinh Thị D phạm tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i và s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Hình sự ;

Xử phạt bị cáo Đinh Thị D từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng

- Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 5.780.000đ là tiền mà bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sử dụng vào việc đánh bạc - Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 784.000đ là tiền mà Đinh Thị D đã bán số lô, số đề cho khách qua đường.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc bút bi vỏ màu trắng đen, mực màu đen trên thân bút có dòng chữ “ matixs Fo – 024” đã thu giữ của Đinh Thị D sử dụng vào việc ghi số lô, số đề trong ngày 13/6/2018.

- Trả lại cho Đinh Thị D số tiền 245.000 đồng nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

Trong quá trình điều tra, anh Phạm Văn Đ trình bày: Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 13/6/2018 anh đi cùng với bạn là Phạm Văn T đi qua khu vực đường QL 1A đối diện đường vào làng L, phường Y, thành phố T thì thấy ở lề đường có một người phụ nữ đang ngồi bán xổ số thì tôi và T đi đến và T có hỏi người phụ nữ mua 03 số lô mỗi số 50 điểm tương ứng với số tiền 3.450.000 đồng cùng lúc đó cũng có một nam thanh niên cũng đến hỏi mua 100 điểm lô và 02 số đề tương ứng với số tiền 2.330.000 đồng. Khi người phụ nữ vừa đưa hai tờ cáp có ghi số lô, số đề đã bán cho T và người thanh niên thì Công an thành phố Tam Điệp bắt quả tang. Tại đây các anh Công an thu giữ tổng số tiền 6.809.000 đồng, 01 chiếc bút mực màu đen , 01 tờ giấy than, 01 bàn, 01 ghế nhựa mà chị D dùng để bán số lô, số đề, 01 quyển sổ mà chị D ghi các số lô, số đề đã bán cho khách sau đó Cơ quan công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đinh Thị D.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi bị truy tố như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt và nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên và Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Bùi Văn Đ và anh Phạm Văn T, phù hợp với tang vật đã thu giữ. Mặt khác được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận vào ngày 13/6/2018 Đinh Thị D đã có hành vi bán các số lô số đề với tổng số tiền là 5.780.000 đồng đã phạm vào tội đánh bạc. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự “ Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Từ căn cứ trên thấy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp truy tố bị cáo Đinh Thị D về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng pháp luật Hành vi phạm tội của bị cáo xảy ra tại nơi tập trung đông dân cư, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn phường Yên Bình nói riêng và trên địa bàn thành phố Tam Điệp nói chung. Do đó cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật và có mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục cải tạo bị cáo đồng thời góp phần phòng ngừa chung.

[3] Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i và s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Xét tính chất hành vi phạm tội, số tiền mà bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ để giáo dục cải tạo bị cáo.

[6] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự quy định” Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng”. Do áp dụng hình phạt chính đối với bị cáo là phạt tiền nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Đinh Thị D.

[7] Trong vụ án này, đối với hành vi mua bán số lô, số đề của Phạm Văn T và Bùi Văn Đ, chưa có tiền án, tiền sự về tội Đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc. Ngày 13/6/2018 đã thực hiện hành vi đánh đánh bạc bằng hình thức mua lô, đề số tiền các đối tượng dùng vào việc đánh bạc cụ thể: của T là 3.450.000 đồng, của Đ là 2.330.000 đồng. Do đó hành vi của T và Đ chưa đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc. Ngày 29/7/2018 Công an thành phố tam Điệp đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phạm Văn T và Bùi Văn Đ là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với ông Phạm Văn L là người đã cho bị cáo Đinh Thị D mượn bộ bàn ghế để D sử dụng vào việc ghi số lô, số đề, khi cho D mượn ông L chỉ biết D bán xổ số còn việc D bán số lô, số đề thì ông L không biết. Do vậy không có căn cứ để xử lý đối với ông Phạm Văn L.

[8] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:

Đối với một quyển sổ có kích thước (10,2 x 7 x 0,7) cm, một tờ giấy than đã qua sử dụng có kích thước (10,3 x 7,3) cm: 02 tờ giấy có kích thước (10,2 x 7) cm có ghi các sô lô, số đề mà D đã bán cho T và Đ cơ quan điều tra đã thu giữ. Những chứng cứ này đã được lưu trong hồ sơ vụ án để làm căn cứ xử lý đối với bị cáo.

- Đối với 01 (một) chiếc bút bi màu trắng đen, mực màu đen trên thân bút có dòng chữ “ matixs Fo – 024” không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với số tiền 5.780.000đ thu giữ của bị cáo đây là số tiền mà bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sử dụng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước là phù hợp với điểm b, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Đối với số tiền 784.000đ là tiền mà bị cáo đã bán những số lô, số đề cho khách qua đường Cơ quan điều tra không xác định được là bị cáo đã bán cho ai do vậy số tiền này cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Đối với số tiền 245.000 đồng là của bị cáo không sử dụng vào việc đánh bạc do vậy cần trả lại cho bị cáo.

[9] Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[10] Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; Các điểm i và s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

- Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Bị cáo Đinh Thị Duyên phạm tội: Đánh bạc.Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

1/ Tuyên bố:

- Xử phạt: Phạt tiền bị cáo Đinh Thị D 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.

2/ Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 5.780.000đ là tiền mà bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sử dụng vào việc đánh bạc - Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 784.000đ là tiền mà Đinh Thị D đã bán số lô, số đề cho khách qua đường.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc bút bi vỏ màu trắng đen, mực màu đen trên thân bút có dòng chữ “ matixs Fo – 024” đã thu giữ của Đinh Thị D sử dụng vào việc ghi số lô, số đề trong ngày 13/6/2018.

- Trả lại cho Đinh Thị D số tiền 245.000 đồng.

Những vật chứng trên Công an thành phố Tam Điệp đã chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp theo theo giấy ủy nhiệm chi số 09 ngày 21 tháng 8 năm 2018 và biên bản giao nhận vật chứng ngày 18 tháng 8 năm 2018 giữa Công an thành phố Tam Điệp và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp.

3/Về án phí: Buộc bị cáo Đinh Thị D phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.


47
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 38/2018/HS-ST ngày 17/09/2018 về tội đánh bạc

Số hiệu:38/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Tam Điệp - Ninh Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 17/09/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về