Bản án 38/2019/HNGĐ-ST ngày 17/05/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 38/2019/HNGĐ-ST NGÀY 17/05/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 17 tháng 05 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 60/2019/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 04 năm 2019 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 05 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Võ Thị Thanh V, sinh năm 1985.

Đa chỉ cư trú trước xuất cảnh: Khối A, phường Q, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

Đa chỉ cư trú hiện nay: 196 Bukwang Knihing Co, Sin sanro Slaha-gu, Busan, Korea (Hàn Quốc); vắng mặt tại phiên tòa và đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Hồng Th, sinh năm 1981.

Đa chỉ cư trú: Xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Võ Thị Thanh V trình bày:

Chị và anh Nguyễn Hồng Th kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An vào ngày 17/07/2013. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hòa thuận được một thời gian ngắn.

Đến tháng 9 năm 2014 thì chị đi xuất khẩu lao động sang Hàn Quốc, cũng từ thời điểm đó trở đi vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng sống xa nhau nên tình cảm ngày càng nhạt phai. Hiện nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Hồng Th.

Về con chung: Chị và Anh Nguyễn Hồng Th không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh Nguyễn Hồng Th không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Hiện tại chị đang sinh sống và làm việc tại Hàn Quốc, không thể về Việt Nam để trực tiếp giải quyết việc ly hôn với anh Nguyễn Hồng Th nên trong bản tự khai, chị đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và xét xử vụ án vắng mặt chị. Đồng thời chị đề nghị Tòa án gửi các văn bản của Tòa án đến mẹ của chị là bà Ngô Thị M, sinh năm 1954, địa chỉ cư trú: Nhà chung cư A2, Khối A, phường Q, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An và bà M sẽ có trách nhiệm thông báo và gửi cho chị.

Bị đơn anh Nguyễn Hồng Th trình bày: Anh đã được chị V và Tòa án thông báo về việc chị nộp đơn ly hôn với anh tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Anh thừa nhận về thời gian, điều kiện, địa điểm đăng ký kết hôn và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng đúng như chị Võ Thị Thanh V trình bày. Sau khi kết hôn anh và chị V chung sống với nhau một thời gian ngắn. Đến năm 2014 chị V đi xuất khẩu lao động sang Hàn Quốc. Từ đó đến nay, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, ít liên lạc với nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng sống xa nhau nên tình cảm phai nhạt dần và không còn quan tâm đến nhau nữa, nay tình cảm vợ chồng không còn. Vì vậy, chị Võ Thị Thanh V làm đơn xin ly hôn thì anh cũng chấp nhận. Hiện nay anh đang đi làm ăn xa nên anh không thể đến Tòa án để giải quyết việc ly hôn với chị V được. Do đó anh làm đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Về con chung: Anh và chị Võ Thị Thanh V không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh và chị Võ Thị Thanh V không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án; lời trình bày của đương sự được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Vụ án Ly hôn không có tranh chấp con chung, tài sản chung và Tòa án không phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Chị Võ Thị Thanh V hiện cư trú tại Hàn Quốc, trước xuất cảnh, chị V có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Hồng Th hiện đang cư trú tại tỉnh Nghệ An. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại các Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.

Về thủ tục hòa giải: Vụ án không tiến hành hòa giải được vì chị Võ Thị Thanh V không thể tham gia hòa giải được do đang ở nước ngoài và yêu cầu không hòa giải là phù hợp với quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Chị Võ Thị Thanh V vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong bản tự khai, chị đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Anh Nguyễn Hồng Th đang cư trú trong nước nhưng hiện nay anh đang đi làm ăn xa nên anh cũng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Thanh V và anh Nguyễn Hồng Th kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An vào ngày 17/07/2013 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hòa thuận được một thời gian ngắn. Đến tháng 9 năm 2014 thì chị V đi xuất khẩu lao động sang Hàn Quốc, cũng từ thời điểm đó trở đi vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng sống xa nhau nên tình cảm ngày càng nhạt phai. Hiện tại, chị Võ Thị Thanh V và anh Nguyễn Hồng Th thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn nên mong muốn Tòa án giải quyết cho ly hôn. Xét thấy, hôn nhân giữa chị Võ Thị Thanh V và anh Nguyễn Hồng Th đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Võ Thị Thanh V yêu cầu giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.

[3]. Về con chung: Chị Võ Thị Thanh V và anh Nguyễn Hồng Th không yêu cầu giải quyết. Vì vậy, Tòa án không xem xét.

[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Võ Thị Thanh V và anh Nguyễn Hồng Th không yêu cầu giải quyết. Vì vậy, Tòa án không xem xét.

[5]. Về án phí: Chị Võ Thị Thanh V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 56, Điều 122, Điều 123, Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ vào các Điều 37, Điều 40, khoản 4 Điều 147, khoản 2, khoản 4 Điều 207, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Võ Thị Thanh V.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Thanh V và anh Nguyễn Hồng Th được ly hôn.

2. Về con chung: Chị Võ Thị Thanh V và anh Nguyễn Hồng Th không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Võ Thị Thanh V và anh Nguyễn Hồng Th không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

4. Về án phí: Chị Võ Thị Thanh V phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0003895 ngày 17/04/2019 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Chị Võ Thị Thanh V đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Võ Thị Thanh V có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Hồng Th có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.


15
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 38/2019/HNGĐ-ST ngày 17/05/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:38/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Nghệ An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 17/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về