Bản án 38/2019/HNGĐ-ST ngày 26/03/2019 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP.CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 38/2019/HNGĐ-ST NGÀY 26/03/2019 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 26 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 99/2019/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2019, về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 150/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 03 năm 2019, giữa:

- Nguyên đơn: Chị Lưu Thị Châu G, sinh năm: 1982;

Địa chỉ: khóm M, phường T, thành phố C, tỉnh C.

- Bị đơn: Anh Trần Đức T, sinh năm: 1980;

Địa chỉ: khóm M, phường T, thành phố C, tỉnh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Về hôn nhân: Chị G và anh T kết hôn vào ngày 18/02/2005, có đăng ký kết hôn tại UBND phường 25, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình chung sống theo chị G thời gian đầu hạnh phúc nhưng gần đây vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do anh T có người phụ nữ bên ngoài, anh bỏ ra ngoài sống khoảng  4tháng nay không quan tâm đến vợ con, vợ chồng không có tiếng nói chung, nay chị cho rằng không thể tiếp tục chung sống với anh T vì vậy chị yêu cầu được ly hôn với anh Trần Đức T. Đối với anh T không thừa nhận có người phụ nữ khác như chị G đã trình bày nhưng xác định đúng là vợ chồng có mâu thuẫn, anh có bỏ ra ngoài sống 4 tháng nay nhưng anh cho rằng mâu chưa lớn nên xin được đoàn tụ, anh không thốngnhất ly hôn.

 - Về con chung: Chị G, anh T xác định có một con chung tên Trần Ngọc Châu,sinh ngày 04/7/2005. Khi ly  hôn chị G yêu cầu được nuôi con không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Anh T thống nhất giao con chị G nuôi dưỡng, không tranh chấp.

-Về tài sản chung:  Chị G, anh T xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết;

- Về nợ chung, nợ riêng: Chị G, anh T xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 [1] Về tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của chị Lưu Thị Châu G đối với anh Trần Đức T được xác định là tranh chấp về việc xin ly hôn theo quy định  tại khoản 2Điều 36 Bộ luật tố tụng dân sự  nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.

[2] Về hôn nhân: Xét yêu cầu ly hôn của chị G đối với anh T thấy rằng chị G, anh T sống chung từ ngày 18/02/2005, có đăng ký kết hôn tại UBND phường 25, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh nên hôn nhân của anh, chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Hiện chị G và anh T điều thừa nhận quá trình sống chung có xảy ra mâu thuẫn, mặc dù đã được cha, mẹ hai bên hòa giải nhiều lần nhưng không thành và anh T ra ngoài ở khoảng hơn 04 tháng nay. Tuy nhiên anh T cho rằng mâu thuẫn vợ chồng không lớn, việc anh ra ngoài ở là do anh phải đi làm vì vậy anh không đồng ý ly hôn. Qua xem xét Hội đồng xét xử thấy rằng hôn nhân của chị G, anh T đã thực sự không còn hạnh phúc, mâu thuẫn đã trầm trọng, diễn ra trong thời gian dài không thể nào hàn gắn, mục đích hôn nhân của hai người không đạt được, hiện chị G xác định chị không còn tình cảm với anh T dù Tòa án có cho đoàn tụ lại thì chị cũng không thể nào sống chung được với anh T. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị G đối với anh T là phù hợp.

[3] Về con chung: Chị G, anh T xác định có 01 người con chung tên Trần Ngọc Châu, sinh ngày 04/7/2005, hiện nay con đang sống chung với chị G. Khi ly hôn anh chị thỏa thuận giao con cho chị G trực tiếp nuôi dưỡng, thỏa thuận này là phù hợp với ý chí nguyện vọng của cháu Châu và việc giao con cho chị G nuôi không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Các Thỏa thuận của đương sự là phù hợp pháp luật nên được chấp thuận. Anh T không trực tiếp nuôi con nhưng có quyền và nghĩa vụ thăm nom, không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung: Chị G, anh T xác định tự thỏa thuận không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét;

[5] Về nợ chung: Chị G, anh T đều xác định không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị G phải nộp án phí dân sự sơthẩm về hôn nhân và gia đình  theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28, 36, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Pháp lệnh án phí và lệ phí Tòa án; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/ Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lưu Thị Châu G ly hôn với anh Trần Đức T.

2/ Về con chung: Giao cháu Trần Ngọc Châu, sinh ngày 04/7/2005 cho chị Lưu Thị Châu G tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Việc cấp dưỡng nuôi con không đặt ra. Anh Trần Đức T không trực tiếp nuôi con nhưng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3/ Về tài sản chung: Chị G, anh T xác định tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không xem xét;

4/ Về nợ chung: Chị G, anh T xác định không có nên Hội đồng xét xử  không xem xét, giải quyết.

5/ Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000đ, chị Lưu Thị Châu G phải nộp. Chị G đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000đ theo biên lai số 0002033 vào ngày 13/02/2019, được đối trừ, chị G đã nộp đủ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai chị G, anh T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


51
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 38/2019/HNGĐ-ST ngày 26/03/2019 về xin ly hôn

Số hiệu:38/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:26/03/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về