Bản án 386/2019/HS-PT ngày 27/05/2019 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 386/2019/HS-PT NGÀY 27/05/2019 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 27/5/2019 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 283/2019/TLPT-HS ngày 25/4/2019 theo Quyết định đưa vụ ánhình sự  ra  xét  xử  số  315/2019/QĐXXPT-HS  ngày 06/5/2019 đối với bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Bá H do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 06/2019/HS-ST ngày 15/03/2019 của Tòa án nhân dân huyện X, thành phố Hà Nội.

 Bị  cáo  có kháng cáo:

1. NGUYỄN VĂN T, sinh năm 1998 tại Hà Nội; ĐKNKTT và trú tại: Thôn TY, xã PY, huyện X, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 08/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn Tuyến và bà Nguyễn Thị Duyên; tiền án: Chưa; tiền sự: Ngày 22/5/2018, bị Công an huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xử phạt hành chính 2.100.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích”; bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

2. NGUYỄN BÁ H, sinh năm 1996 tại Hà Nội; ĐKNKTT và trú tại: Thôn TY, xã PY, huyện X, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông

Nguyễn Văn Toàn (Đã chết) và bà Nguyễn Thị Dung; tiền án, tiền sự: Chưa; bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

 Bị  hại  kh ông  có  khán g  cáo :  Anh Đào Văn A, sinh năm 1979; ĐKNKTT và trú tại: Thôn TY, xã PY, huyện X, thành phố Hà Nội. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Gia đình anh Đào Văn A có chăn nuôi vịt đẻ tại cánh đồng Thôn TY, xã PY, huyện X, thành phố Hà Nội và có có dựng một lều (Cạnh đường gom cánh đồng Thôn TY) để trông vịt. Quá trình chăn nuôi thì gia đình anh Đào Văn A bị mất vịt và nghi ngờ cho Nguyễn Văn T và Nguyễn Bá H là người trộm cắp. Biết gia đình anh Đào Văn A nghi ngờ cho mình trộm cắp vịt nên khoảng 01 giờ ngày 31/8/2018, Nguyễn Văn T đi xe môtô đến nhà Nguyễn Bá H và nói với H biết việc gia đình anh A nghi ngờ T, H trộm cắp vịt của gia đình anh và rủ H đi đánh anh A để dằn mặt, H đồng ý. Khi đi H cầm theo 01 gậy tre dài 128cm, đường kính 04 cm; T chở H về nhà T lấy 01 đoạn tuýt sắt dài 83cm, đường kính 02cm, rồi cả hai đi ra lều nhà anh A. Khi đến nơi, T và H đứng trước cửa lều gọi anh A, lúc này anh A đang ngủ trong lều không ra. T chửi anh A đồng thời cầm tuýt sắt chọc vào cửa lều bằng tôn làm cửa bị lõm và thủng. Lúc này anh A mở cửa ngó ra ngoài, T cầm tuýp sắt chọc về phía người anh A, anh A thấy vậy chui vào lều và lùi về phía cuối lều. T cầm tuýp sắt bước lên cửa lều ngồi xổm và bảo H bật đèn điện thoại lên rọi vào trong lều để nhìn rõ vị trí của anh A. T cầm tuýt sắt chọc và vụt nhiều lần vào người anh A, thì anh A lấy gối, tay che người. Trong khi T đang đánh anh A thì H đứng ngoài cầm gậy tre đập vào lều tôn làm mái lều bị bẹp lõm. Khi T và H đang đánh, chửi anh A thì bà Nguyễn Thị Duyên là mẹ đẻ T và bà Nguyễn Thị Dung là mẹ đẻ H biết chuyện nên đến can ngăn kéo T, H về.

Sau khi sự việc xẩy ra, anh Đào Văn A được đưa đến Bệnh viện đa khoa Nông nghiệp sơ cứu và điều trị đến ngày 05/9/2018 thì ra viện. Anh Đào Văn A đề nghị xử lý các bị cáo theo quy định của pháp luật và yêu cầu bồi thường tiền thuốc, tiền viện phí, tiền tổn thất tinh thần và thời gian thuê người trông vịt tổng cộng là 100.000.000 đồng và 350.000 đồng thiệt hại về tài sản.

Tại bản kết luận giám định pháp y thương tích số 5422/C09 (TT1) ngày 12/10/2018 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận: “Anh Đào Văn A bị đa vết thương phần mềm vùng đầu mặt, tay, chân đã điều trị. Hiện tại để lại các thương tích sau: Sẹo nông vùng trán trái không ảnh hưởng thẩm mỹ; sẹo nông gò má trái không ảnh hưởng thẩm mỹ; diện sẹo nông vùng ngực trái; sẹo cẳng tay trái; 02 sẹo cẳng chân trái. Tỷ lệ tổn thương cơ thể: Sẹo nông vùng trán trái không ảnh hưởng thẩm mỹ: 01%; sẹo nông gò má trái không ảnh hưởng thẩm mỹ: 01%; diện sẹo nông vùng ngực trái: 01%; sẹo cẳng tay trái: 01%; 02 sẹo cẳng chân trái: 02%; áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích quy định tại Thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày12/6/2014 của Bộ Y tế xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Đào Văn A tại thời điểm giám định là: 06%.Cơ chế hình thành thương tích: Các tổn thương xây sát vùng đầu mặt, tay trái và chân trái của anh Đào Văn A do vật tày gây lên”.

Tại kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự ngày 29/11/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện X xác định: “01 cánh cửa bên phải lều bằng tôn có 03 vết lõm, đường kính 02cm, có 01 vết thủng kích thước (3x2,2cm) và 01 vết xước (5x1,7cm), giá sửa chữa là 250.000 đồng; 01 mái vòm lều tôn có vết bẹp lõm diện (45x03cm), giá sửa chữa là 100.000 đồng. Tổng cộng 350.000 đồng”.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 06/2019/HS-ST ngày 15/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện X đã áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm  i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2017, xử phạt Nguyễn Văn T 09 tháng tù, Nguyễn Bá H 06 tháng tù đều về tội “Cố ý gây thương tích”. Buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường 21.793.278 đồng. Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, về án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 18 và ngày 26/3/2019, các bị cáo Nguyễn Bá H và Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo đề nghị được hưởng án treo.

Tại phiên tòa: Các bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo vì đều là hàng xóm, láng giềng; các bị cáo đã nhận ra sai phạm; các bị cáo và bị hại xác nhận là các bị cáo chưa bồi thường thương tích. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội sau khi đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi; nhân thân và các tình tiết, tăng nặng, giảm nhẹ của từng bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Điều 331; 334; điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Chấp nhận các kháng cáo về hình thức; không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo về nội dung, cụ thể: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn T 09 tháng tù, Nguyễn Bá H 06 tháng tù; các quyết định khác không có kháng cáo, kháng nghị giữ nguyên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án này, các Cơ quan và người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự; không ai có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định các bị cáo có kháng cáo là hợp lệ, được chấp nhận.

[2] Về nội dung: Xuất phát từ việc cho rằng anh Đào Văn A nghi ngờ các bị cáo đã trộm vịt của gia đình nên Nguyễn Văn T đã rủ Nguyễn Bá H đi đánh anh Đào Văn A. Khoảng 01 giờ ngày 31/8/2018 tại lều trông vịt của anh Đào Văn A ở cánh đồng Thôn TY, xã PY, huyện X, thành phố Hà Nội, Nguyễn Văn T mang theo chiếc tuýp sắt, Nguyễn Bá H mang theo chiếc gậy tre - Là những hung khí nguy hiểm đến đánh anh Đào Văn A. Đến nơi, hai bị cáo đã chửi bới, dùng tuýp sắt, gậy tre đập và chọc vào lều; Nguyễn Bá H đã dùng đèn trên điện thoại đi động soi để Nguyễn Văn T chọc tuýp sắt vào người, gây thương tích 06% cho anh Đào Văn A. Hành vi trên của của các bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm kết án về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét các kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng; hành vi đó đã xâm phạm sức khỏe, tinh thần của người khác; gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tù để giáo dục, cải tạo riêng và đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung. Vụ án mang tính đồng phạm giản đơn; Nguyễn Văn T là người khởi xướng, rủ rê Nguyễn Bá H cùng phạm tội; là người sử dụng tuýp sắt chọc vào người gây thương tích 06% cho anh Đào Văn A; bị cáo Nguyễn Bá H tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức, thứ yếu. Về nhân thân, bị cáo T đã có một tiền sự về hành vi cùng loại, chưa được xóa; bị cáo H chưa có tiền án, tiền sự; Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là chưa chính xác. Sau khi phạm tội, các bị cáo đã thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; các bị cáo và bị hại là hàng xóm, láng giềng; thương tích của bị hại không lớn và tại phiên tòa bị hại đề nghị xem xét giảm nhẹ và cho các bị cáo được hưởng án treo.

Với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi; vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ như đã đánh giá ở trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Nguyễn Văn T; chấp nhận kháng cáo, cho bị cáo Nguyễn Bá H được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2017.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật.

[4] Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì các bị cáo và bị hại không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; các điểm c, e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa bản án sơ thẩm, cụ thể:

1.1) Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2017, xử phạt Nguyễn Văn T 07 (Bảy) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đầu thi hành án.

1.2) Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2017, xử phạt Nguyễn Bá H 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày 27/5/2019. Giao bị cáo Nguyễn Bá H cho Ủy ban nhân dân xã PY, huyện X, thành phố Hà Nội để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách; trong trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự; trong thời gian thử thách, Nguyễn Bá H cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án này.

1.3) Các bị cáo và bị hại không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về bồi thường thiệt hại, về xử lý vật chứng và án phí sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


36
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về