Bản án 39/2015/KDTM-PT ngày 09/11/2015 về điều lệ đại hội đồng cổ đông

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 39/2015/KDTM-PT NGÀY 09/11/2015 VỀ ĐIỀU LỆ ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG

Ngày 09 tháng 11 năm 2015, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 13KT/2015/TL-PT ngày 13 tháng 3 năm 2015 do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 57/2014/KDTM-ST của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 649/2015/QĐ-PT ngày 22 tháng 9 năm 2015 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn:

- Ông Lê Anh Tuấn; trú tại: Số 19 Phùng Khắc Khoan, phường Ngô Thì Nhậm, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.

- Ông Dương Đức Thắng; trú tại: nhà số 10, ngách 158/21 phố Ngọc Hà, quận Ba Đình, Hà Nội do ông Tuấn đại diện theo ủy quyền.

* Bị đơn:

- Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Vật tư Thiết bị đường sắt; trụ sở: số 132 Lê Duẩn, phường Nguyễn Du, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.

 Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn Hưng, sinh năm 1985; ®¨ng ký nh©n khÈu th­êng tró: xã Nhân Đạo, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: ông Nguyễn Thanh Sơn, luật sư ­ Công ty luật Thanh Sơn và đồng sự, Đoàn luật sư thành phố Hà Nội.

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện, tại lời khai các Nguyên đơn trình bày:

Yêu cầu Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Vật tư Thiết bị đường sắt cho ông Lê Anh Tuấn và ông Dương Đức Thắng xem xét, tra cứu, trích lục hoặc sao chụp Điều lệ công ty đã sửa đổi, bổ sung năm 2012, các sổ biên bản họp đại hội đồng cổ đông và các nghị quyết của đại hội đồng cổ đông từ năm 2005 đến nay, các thông tin trong danh sách cổ đông có quyền biểu quyết. Văn bản số 257 ngày 28/4/2011, Công ty trả lời không cung cấp là vi phạm quy định tại điểm đ, điểm e khoản 1 Điều 79 Luật Doanh nghiệp. Các ông đã nhiều lần yêu cầu Công ty cung cấp bản Điều lệ của Công ty đã được sửa đổi, bổ sung liên quan đến quyền tham dự họp Đại hội đồng cổ đông của các ông theo phán quyết tại bản án phúc thẩm số 02/2012/KDTM-PT ngày 10/01/2012 nhưng không được công ty giải quyết. Theo điều lệ cũ thì các ông không được tham dự họp đại hội cổ đông, việc công ty gửi thông báo mời họp mà không thông báo việc đã sửa đổi điều lệ liên quan đến quyền tham dự họp của các ông là vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 98 Luật Doanh nghiệp; khoản 2.1 Điều 17 Điều lệ Công ty, do đó vi phạm khoản 1 Điều 107 Luật Doanh nghiệp.

Yêu cầu Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Vật tư thiết bị đường sắt sửa đổi, bổ sung Điều 35 Điều lệ công ty đối với các nội dung về quyền điều tra sổ sách của cổ đông phổ thông được quy định tại điểm đ, điểm e, Điều 79 Luật Doanh nghiệp vì theo văn bản số 506/CV.VTTB.TCCB-LĐ ngày 08/8/2011 công ty đã trả lời, nhưng đến nay vẫn chưa sửa đổi.

Bị đơn Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu Vật tư thiết bị đường sắt do người đại diện trình bày:

Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Vật tư thiết bị đường sắt là một doanh nghiệp với 71,17% vốn Nhà nước trực thuộc Tổng Công ty đường sắt Việt Nam. Ngoài mục đích kinh doanh Công ty còn phải thực hiện nhiệm vụ kinh tế chính trị là sản xuất cung cấp vật tư trang thiết bị phục vụ toàn ngành đường sắt Việt Nam. Hiện nay, Công ty đang tạo công ăn việc làm cho 365 lao động và hàng năm nộp ngân sách nhà nước khoảng 20 tỷ đồng.

Theo đúng quy định pháp luật và Điều lệ công ty, thực hiện sự lãnh đạo của Đảng ủy Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam, Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu thiết bị vật tư đường sắt đã tiến hành Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2013 vào ngày 03/5/2013 tại hội trường công ty.

Công ty đã tiến hành đúng trình tự và thủ tục triệu tập Đại hội, nội dung chương trình và thể thức tiến hành Đại hội, cụ thể:

Ngày 18/4/2013, Chủ tịch HĐQT thay mặt HĐQT Công ty ký thông báo mời họp Đại hội cổ đông thường niên năm 2013. Thông báo này đã được gửi đến tất cả cổ đông có quyền dự họp đại hội. Gửi kèm theo thông báo này là Giấy xác nhận tham dự, ủy quyền tham dự Đại hội đồng cổ đông thường niên để các cổ đông đăng ký tham dự hoặc ủy quyền cho người khác tham dự Đại hội.

Ngày 03/5/2013, Đại hội đồng cổ đông Công ty đã diễn ra đúng theo chương trình, thời gian, địa điểm đã thông báo. Đại hội có 42 cổ đông dự họp đại diện cho 2.570.121 cổ phần/3.125.250 cổ phần, chiếm 82,24% tổng số cổ phần của công ty.

Quá trình diễn ra Đại hội, các vấn đề đưa ra thảo luận và thông qua đều đạt 100% số phiếu biểu quyết tán thành. Đại hội đã thông qua Nghị quyết số 244/NQ. VTTB. HĐQT với 09 điều được quyết nghị.

Công ty khẳng định trình tự và thủ tục triệu tập Đại hội, nội dung chương trình và thể thức tiến hành Đại hội nêu trên là đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, Công ty thấy bất ngờ khi ngày 10/10/2013 nhận được thông báo về việc thụ ý vụ án của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội với nội dung: Các nguyên đơn ông Lê Anh Tuấn, ông Dương Đức Thắng yêu cầu Tòa án hủy các nội dung của Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2013 của Công ty với lý do Ban tổ chức Đại hội ngăn cấm không cho các ông vào tham dự Đại hội.

Các nguyên đơn là cổ đông của công ty, cụ thể:

Ông Lê Anh Tuấn sở hữu 1.620 Cổ phần/3.125.250 cổ phần, tương đương với 0,052% tổng số cổ phần của Công ty.

Ông Dương Đức Thắng sở hữu 13.100 Cổ phẩn/3.125.250 cổ phần, tương đương với 0,092% tổng số cổ phần của Công ty.

Các yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn là không có căn cứ bởi:

Các nguyên đơn trong quá trình khởi kiện, các bản tự khai đều tự khẳng định đã nhận được thông báo mời họp Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2013 của Công ty vào ngày 24/5/2013 (trước ngày diễn ra Đại hội 08 ngày). Các nguyên đơn đã không thực hiện việc đăng ký hay ủy quyền dự đạ hội theo yêu cầu của Công ty.

Điều này khẳng định Công ty đã tiến hành trình tự và thủ tục triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2013 đúng quy định của luật doanh nghiệp và điều lệ công ty. Thực tế các nguyên đơn đã nhận được thông báo mời họp trước 08 ngày diễn ra Đại hội. Công ty đã đảm bảo đầy đủ các quyền được dự họp của cổ đông.

Các nguyên đơn cho rằng, vào sáng ngày 03/5/2013 có đến dự Đại hội nhưng ban tổ chức đã không cho vào dự Đại hội. Ban tổ chức Đại hội đã có hành vi ngăn cản việc tham dự họp của các nguyên đơn là vi phạm luật doanh nghiệp và điều lệ công ty. Vì lý do đó mà các nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố hủy toàn bộ nội dung của Đại hội cổ đông năm 2013 của Công ty.

Về vấn đề này, Công ty khẳng định trong quá trình tổ chức đại hội không tồn tại cái gọi là “Ban tổ chức” như các nguyên đơn trình bày. Công ty không biết “Ban tổ chức” nào đã ngăn cản các nguyên đơn không cho vào dự đại hội.

Theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty thì chủ tọa và thư ký Đại hội cổ đông có quyền điều khiển cuộc họp, thực hiện các biện pháp cần thiết để đảm bảo trật tự, đúng chương trình và phản ánh được mong muốn của đa số người dự họp. Trong suốt quá trình diễn ra Đại hội Công ty từ 8h30 đến 11h30 ngày 03/5/2015, chủ tọa và thư ký Đại hội không nhận được bất ký phản ánh nào của các cổ đông liên quan đến trình tự, thủ tục triệu tập Đại hội, cũng như nội dung chương trình, thể thức tiến hành của Đại hội. Đại hội diễn ra một cách ổn định, trật tự và kết thúc một cách tốt đẹp ngay tại hội trường của Công ty trong buổi sáng ngày 03/5/2013. Công ty khẳng định, Chủ tọa và thư ký Đại hội không biết cũng như không có bất cứ hành vi nào ngăn cản cổ đông tham dự Đại hội.

Rõ ràng việc các nguyên đơn cho rằng “Ban tổ chức Đại hội” đã có hành vi ngăn cản họ tham dự họp là không có chứng cứ chứng minh.

Về vấn đề sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đưa ra trong đơn ngày 25/12/2013:

Đại hội đồng Cổ đông Công ty ngày 24/5/2008 đã thông qua Điều lệ Công ty và có hiệu lực ngay khi thông qua (sau đây gọi là điều lệ 2008). Điều lệ 2008 được áp dụng từ ngày thông qua đến khi công ty tiến hành Đại hội đồng cổ đông năm 2013. Trong suốt quá trình từ năm 2008 đến năm 2013 Công ty không tiến hành sửa đổi, bổ sung Điều lệ Công ty.

Tại bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 02/2012/KDTM-PT ngày 10/01/2012 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã tuyên hủy khoản 3, Điều 14 Điều lệ Công ty (Cổ đông sở hữu hoặc đại diện sở hữu 6.000 cổ phần của Công ty trở lên được tham dự Đại hội cổ đông). Vì vậy, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật thì khoản 3, Điều 4 Điều lệ Công ty không còn hiệu lực, đồng nghĩa với việc tất cả các cổ đông của Công ty đều có quyền tham gia Đại hội đồng cổ đông. Công ty đã triệu tập hợp lệ tất cả các cổ đông đến tham gia Đại hội cổ đông năm 2013 trong đó có các nguyên đơn trong vụ án này.

Nguyên đơn yêu cầu công ty xem xét, tra cứu, trích lục hoặc sao chụp các biên bản họp đại hội đồng và các nghị quyết của đại hội đồng cổ đông từ năm 2005 đến nay, các thông tin trong danh sách cổ đông có quyền biểu quyết. Vấn đề này không phải là tranh chấp giữa nguyên đơn và Công ty nên đề nghị Tòa án không xem xét giải quyết. Tuy nhiên, Công ty đề nghi các cổ đông là nguyên đơn trong vụ án này có văn bản gửi đến Công ty để công ty xem xét các yêu cầu này vào thời điểm thích hợp.

Nguyên đơn yêu cầu Công ty sửa đổi Điều 35 Điều lệ Công ty. Công ty khẳng định Điều 35 Điều lệ công ty không trái quy định của Luật doanh nghiệp. Nguyên đơn là cổ đông của Công ty nên có quyền nêu ý kiến đề nghị Công ty sửa đổi. Tuy nhiên, việc sửa đổi điều lệ Công ty phải thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều lệ và Luật doanh nghiệp.

Các nguyên đơn đưa ra yêu cầu mà không có chứng cứ chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ hợp pháp. Vì vậy, Công ty kính đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bác các yêu cầu khởi kiện.

Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 57/2014/KDTM-ST ngày 18/12/2014 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn về việc tuyên hủy toàn bộ nội dung của Đại hội cổ đông năm 2013 và các văn bản được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Vật tư Thiết bị đường sắt tổ chức vào ngày 03/5/2013.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn về việc yêu cầu Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Vật tư thiết bị đường sắt sửa đổi Điều 35 Điều lệ công ty.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 29/12/2014 đồng nguyên đơn là ông Lê Anh Tuấn và Dương Đức Thắng có đơn kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông. Ngày 01/10/2015, ông Tuấn có đơn bổ sung kháng cáo và yêu cầu hủy án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại do vi phạm thủ tục tố tụng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Lê Anh Tuấn xác định đơn kháng cáo của ông và ông Thắng đề ngày 29/12/2014 có nội dung yêu cầu cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của hai ông nhưng ngày 01/10/2015, hai ông có đơn sửa đổi, bổ sung nội dung đơn kháng cáo, theo đó các ông đề nghị hủy án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại với lý do Tòa cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Phía bị đơn do ông Phạm Văn Hưng đại diện theo ủy quyền của Công ty cho rằng bản án sơ thẩm đã không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Tuấn và ông Thắng là có căn cứ, việc ông tham gia tố tụng theo ủy quyền của ông Vận - người đại diện theo pháp luật của Công ty là đúng quy định của pháp luât, nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn cho rằng: Tòa án Cấp sơ thẩm không vi phạm thủ tục tố tụng. Việc tiến hành Đại hội cổ đông thường niên năm 2013 của Công ty đã tiến hành theo đúng quy định của Luật doanh nghiệp năm 2005, nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Anh Tuấn và ông Dương Đức Thắng là có căn cứ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội trình bày quan điểm về giải quyết vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các nguyên đơn trong vụ án và giữ nguyên án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và trên cơ sở trình bày của các bên đương sự, luật sư, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên tòa.

XÉT THẤY

 Về tố tụng: Sau khi ông Tuấn, ông Thắng và ông Lợi có đơn khởi kiện, Tòa án cấp sơ thẩm đã thụ lý vụ án và tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên sau đó, ông Thắng và ông Lợi có đơn rút yêu cầu khởi kiện và ngày 25/11/2013, ông Thắng lại có đơn hủy bỏ việc rút đơn khởi kiện nên thời hạn xét xử sơ thẩm bị kéo dài vượt quá thời hạn quy định của pháp luật như các nguyên đơn đã nêu trong đơn kháng cáo là chính xác. Song việc để quá thời hạn như đã nêu trên của Tòa án cấp sơ thẩm không thuộc trường hợp vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nên chỉ cần yêu cầu cấp sơ thẩm rút kinh nghiệm.

Ngay sau khi ông Tuấn và ông Thắng có đơn khởi kiện, Tòa án cấp sơ thẩm đã thụ lý vụ án tranh chấp giữa thành viên Công ty với Công ty. Tuy nhiên sau đó, Tòa án cấp sơ thẩm lại có thông báo chuyển vụ án thành việc kinh doanh thương mại, nhưng khi xét xử lại xác định là vụ án kinh doanh thương mại như bản án sơ thẩm đã tuyên. Căn cứ Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự thì yêu cầu khởi kiện của ông Tuấn và ông Lợi không phải việc kinh doanh thương mại và căn cứ khoản 4 Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 107 Luật doanh nghiệp năm 2005 thì yêu cầu khởi kiện về việc hủy Nghị quyết đại hội cổ đông thường niên năm 2013 của Công ty cổ phần xuất nhập khẩu đường sắt được cấp sơ thẩm thụ lý vụ án kinh doanh thương mại để xét xử là chính xác. Việc cấp sơ thẩm có thông báo thay đổi từ “vụ” sang “việc” nhưng sau đó lại chuyển sang “vụ” án mà không thông báo lại cho các đương sự là có thiếu sót. Tuy nhiên, sau khi nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm, phía nguyên đơn không có ý kiến gì về phần thủ tục nên chỉ cần rút kinh ngiệm với cấp sơ thẩm.

Các yêu cầu khởi kiện bổ sung của phía nguyên đơn về việc Công ty phải cho các nguyên đơn xem xét, tra cứu, trích lục hoặc sao chụp Điều lệ Công ty sửa đổi năm 2012, các sổ biên bản họp đại hội cổ đông thường niên từ năm 2005 và các thông tin trong danh sách cổ đông có quyền biểu quyết không được cấp sơ thẩm xem xét là có căn cứ bởi lẽ: Các yêu cầu trên của phía nguyên đơn không thuộc các tranh chấp về kinh doanh thương mại và không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về vấn đề ủy quyền của Công ty cho anh Hưng tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Tại khoản 2.4 Điều 2 của Điều lệ Công ty năm 2013 quy định: “Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của Công ty”. Theo quy định tại khoản 1 Điều 143 Bộ luật dân sự thì Người đại diện thep pháp luật có thể ủy quyền cho người khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Theo quy định tại Điều 73 Bộ luật tố tụng dân sự thì người đại diện trong tố tụng dân sự bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền. Người đại diện theo pháp luật được quy định trong bộ luật dân sự là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự…người đại diện theo ủy quyền được quy định trong Bộ luật dân sự là người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự… Mặt khác trong suốt quá trình giải quyết vụ án, ông Tạ Thống Nhất - Chủ tịch Hội đồng quản trị của Công Ty không có khiếu nại gì về việc ủy quyền của ông Vận đối với ông Hưng. Do đó, ông Vũ Đình Vận - Tổng giám đốc Công ty là người đại diện theo pháp luật của Công ty ủy quyền cho ông Hưng tham gia tố tụng tại các phiên tòa là đúng thẩm quyền và phù hợp quy định của pháp luật, không vi phạm tố tụng như kháng cáo của ông Tuấn đã nêu.

Về nội dung: Ngày 18/4/2013, thay mặt Hội đồng quản trị, ông Tạ Thống Nhất - Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty ký thông báo mời họp Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2013 là đúng thẩm quyền. Thông báo này đã được gửi cho tất cả các cổ đông có quyền dự họp. Gửi kèm thông báo là giấy xác nhận tham dự, ủy quyền tham dự đại hội. Trong đơn khởi kiện ông Tuấn xác định đã nhận được thông báo mời họp ngày 25/4/2013 nhưng trong đơn khởi kiện bổ sung, và các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, ông Tuấn lại xác định đã nhận được thông báo mời họp ngày 26/4/2013, có đến đại hội ngày 05/3/2013 nhưng bị ngăn cản không được vào dự họp. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Tuấn lại trình bày do nhận được bì thư của Công ty gửi ghi người nhận là “211 Lê Anh Tuấn” là không đúng người nhận nên không bóc bì thư và không biết nội dung bên trong bì thư, các nguyên đơn đến đại hội đúng ngày là do có thông tin từ các cổ đông khác. Như vậy, lời khai của ông Tuấn trước sau không thống nhất. Ông Tuấn và ông Thắng cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh có đến dự đại hội nhưng bị ngăn cản, trong khi những người mà ông Tuấn cho rằng có hành vi cản trở ông không cho vào đại hội như ông ông Vũ Hồng Tuấn và chị Nguyễn Hà Liên đều ở phòng tổ chức của Công ty đều có bản tự khai. Trong đó, ông Vũ Hồng Tuấn xác định: “Trong quá trình tiếp nhận đăng ký, các cổ đông Lê Anh Tuấn, Dương Đức Thắng, Hoàng Viết Lợi không đăng ký tham dự đại hội và trong suốt quá trình diễn ra đại hội từ 8giờ 30 đến 11 giờ 30 ngày 03/5/2013 không thấy các ông đến Công ty dự đại hội. Các ông Lê Anh Tuấn, Dương Đức Thắng và ông Hoàng Viết Lợi nói rằng tôi có hành vi ngăn cản không cho các ông vào dự đại hội là hoàn toàn bịa đặt, không có căn cứ…” (BL99). Chị Nguyễn Hà Liên khẳng định “Trong quá trình đón tiếp đại biểu dự đại hội và làm công tác phục vụ đại hội Công ty ngày 03/5/2013, tôi không thấy có đại biểu hay cổ đông nào đến muộn sau khi đại hội khai mạc lúc 8 giờ 30” (BL98). Tại biên bản đối chất giữa ông Lê Anh Tuấn với ông Vũ Hồng Tuấn và bà Nguyễn Hà Liên, cả ông Tuấn và bà Liên vẫn khẳng định các nguyên đơn không đến dự đại hội, không có đại biểu nào đến muộn và họ không có hành vi ngăn cản bất cứ đại biểu nào đến dự đại hội. Căn cứ thông báo mời họp và thực tế có 42 đại biểu với tổng số cổ phần sở hữu và ủy quyền là 2.570.121 cổ phần, đại diện cho 186 cổ đông của Công ty (chiếm 82,24% tổng số cổ phần của Công ty) chứng tỏ Công ty đã triệu tập đại hội đúng trình tự thủ tục và đại hội đã tiến hành các nội dung như biên bản đại hội thể hiện là đúng quy định của pháp luật. Do đó, kháng cáo của ông Tuấn và ông Thắng không có cơ sở chấp nhận 

Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Lê Anh Tuấn và Dương Đức Thắng phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên; căn cứ khoản 1 Điều 275 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 33 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014; Nghị quyết số 81/2014/QH13 ngày 24/11/2014 của Quốc hội khóa XIII về việc thi hành Luật tổ chức Tòa án nhân dân.

QUYẾT ĐỊNH

Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Anh Tuấn, ông Dương Đức Thắng, giữ nguyên án bản sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

Áp dụng khoản 3 Điều 29; Điều 34; khoản 1 Điều 131; Điều 195; Điều 245 Bộ luật tố tụng dân sự. Pháp lệnh án phí, lệ phí ngày 27/2/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội

Áp dụng các Điều từ 96 đến 107 Luật doanh nghiệp năm 2005 xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn về việc tuyên hủy toàn bộ nội dung của Đại hội đồng cổ đông năm 2013 và các văn bản được thông qua tại Đại hội đông Công ty xuất nhập khẩu Vật tư, thiết bị đường sắt tổ chức vào ngày 03/5/2013.

2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Anh Tuấn và ông Thắng về việc yêu cầu Công ty sửa đổi Điều 35 Điều lệ công ty.

3- Về án phí:

- Ông Lê Anh Tuấn phải chịu 200.000 đồng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm đối trừ với số tiền 200.000 đồng ông Tuấn đã nộp theo Biên lai số 04244 ngày 09/01/2015 tại Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.

- Ông Dương Đức Thắng phải chịu 200.000 đồng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm đối trừ với số tiền 200.000 đồng ông Thắng đã nộp theo Biên lai số 0425 ngày 09/01/2015 tại Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. 


274
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 39/2015/KDTM-PT ngày 09/11/2015 về điều lệ đại hội đồng cổ đông

Số hiệu:39/2015/KDTM-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành:09/11/2015
Án lệ được căn cứ
     
    Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
      Bản án/Quyết định phúc thẩm
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về