Bản án 39/2017/HNGĐ-ST ngày 18/07/2017 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LV, TỈNH ĐỒNG THÁP

BẢN ÁN 39/2017/HNGĐ-ST NGÀY 18/07/2017 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 18 tháng 7 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện LV mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 07/2017/TLST-HNGĐ, ngày 10 tháng 01 năm 2017 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/4/2017, quyết định hoãn phiên tòa số: 29A/201QĐST-HNGĐ ngày 28/4/2017 và thông báo mở lại phiên tòa số 29/TB-TA ngày 27/6/2017giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Trần Minh B, sinh năm: 1979; (có mặt) Đăng ký HKTT: ấp MT, xã DM, huyện TS, tỉnh An Giang. Tạm trú: số 415, ấp BH A, xã BTT, LV, Đồng Tháp.

- Bị đơn: Nguyễn Thị H, sinh năm: 1988; (vắng mặt) Đăng ký HKTT: số 415, ấp BH A, xã BTT, LV, Đồng Tháp. Tạm trú: số 129, ấp TT, xã BTT, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, trong bản trình bày ý kiến, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn Trần Minh B trình bày: Anh B và chị H chung sống với nhau năm 2007, có đăng ký kết hôn năm 2008 tại Ủy ban nhân dân xã BTT, quá trình sống chung có một con chung tên Trần Nguyễn D, sinh ngày 28/6/2008, con hiện anh B đang trực tiếp nuôi dưỡng, nguyên nhân vợ chồng phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng không hòa hợp trong cuộc sống, thường xảy ra xung đột, chị H thường tham gia đánh bạc anh B khuyên nhủ nhiều lần nhưng không được, vợ chồng ly thân từ tháng 7/2016 đến nay. Anh B và chị H nhiều lần ngồi lại nói chuyện để khắc phục tình trạng mâu thuẫn nhưng không thành. Nay anh B yêu cầu ly hôn với chị H, yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi con chung tên Trần Nguyễn D, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con; Tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị H là bị đơn trong vụ án mặt dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án cho chị H, chị H đã ký nhận nhưng chị H không trình bày ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án đã ra thông báo, triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải 02 lần, tống đạt hợp lệ nhưng chị H vẫn không đến tham dự. Sau đó, Tòa án triệu tập chị H đến tham gia phiên tòa xét xử, Tòa án đã tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và thông báo mở lại phiên tòa hợp lệ 02 lần nhưng chị H vẫn vắng mặt tại phiên tòa cả hai lần không có lý do, căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành đưa vụ án ra xét xử.

[2] Về tình cảm hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa anh B và chị H đảm bảo tuân thủ theo quy định của pháp luật về các điều kiện kết hôn. Anh chị đã thực hiện đúng thủ tục đăng ký và được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Nhưng hiện tại vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân anh B trình bày là do vợ chồng không hòa hợp trong cuộc sống, thường xảy ra xung đột, cãi vã, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 07/2016 đến nay. Nay anh B xác định tình cảm vợ chồng không còn yêu cầu xin ly hôn với chị H. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý hợp lệ cho chị H ký nhận nhưng chị H không trình bày ý kiến của mình về việc khởi kiện của anh B, Tòa án tiếp tục thông báo, triệu tập về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hai lần đã tống đạt hợp lệ cho chị H nhưng chị H không đến tham dự. Hiện nay anh B và chị H vẫn sống ly thân với nhau. Tại phiên toà hôm nay anh B cương quyết ly hôn. Xét thấy về bản chất thực của quan hệ hôn nhân giữa anh B và chị H đã rơi vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu kéo dài sẽ không mang lại hạnh phúc cho nhau, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh B là có căn cứ phù hợp pháp luật.

[2] Về nuôi con chung: Anh B và chị H chung sống có 01 con chung tên Trần Nguyễn D, sinh ngày 28/6/2008, con do anh B trực tiếp nuôi dưỡng từ ngày vợ chồng sống ly thân đến nay. Tại phiên Toà hôm nay anh B yêu cầu được nuôi con tên D, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Xét yêu cầu về người trực tiếp nuôi con khi ly hôn của anh B Hội đồng xét xử nhận thấy: Con chung của anh B và chị H tên Trần Nguyễn D, sinh ngày 28/6/2008 do anh B trực tiếp nuôi dưỡng bé Dương phát triển bình thường về thể chất cũng như tinh thần, nguyện vọng của bé D yêu cầu được sống chung với cha nếu như cha mẹ ly hôn. Từ những phân tích trên xét yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của anh B là có căn cứ Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về tài sản chung: Anh B trình bày quá trình chung sống anh B và chị H không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét phán quyết.

[4] Về nợ chung: Anh B trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh B phải chịu án phí sơ thẩm hôn nhân gia đình theo Luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 8, 9, 56, 81,82,83 Luật hôn nhân gia đình; Căn cứ vào Điều 147, 227,228, 235 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về tình cảm hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Trần Minh B. Anh Trần Minh B được ly hôn với chị Nguyễn Thị H.

- Về nuôi con chung: Giao con chung tên Trần Nguyễn D, sinh ngày 28/6/2008 cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng. Anh B không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

Anh B cùng các thành viên gia đình không được cản trở chị H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

- Về tài sản chung: Anh B không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, anh B không yêu cầu Tòa giải quyết.

- Về án phí: Anh B phải nộp 300.000đ tiền án phí sơ thẩm hôn nhân gia đình nhưng được khấu trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp ngày 10/01/2017 theo biên lai số 08945 của Chi cục thi hành án dân sự huyện LV, anh B không phải nộp thêm.

Án xử có mặt nguyên đơn, báo cho nguyên đơn biết là có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (18/7/2017). Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc được niêm yết bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


50
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 39/2017/HNGĐ-ST ngày 18/07/2017 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

Số hiệu:39/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lai Vung - Đồng Tháp
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:18/07/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về