Bản án 39/2017/HSST ngày 29/08/2017 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN – TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 39/2017/HSST NGÀY 29/08/2017 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 29 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyệnNghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 44/2017/HSST ngày 04tháng 8năm 2017 đối với bị cáo:

Lê Thị Thúy H, tên gọi khác: Không; sinh ngày 27/6/1998; Nơi ĐKHKTT và chổ ở hiện nay: Xóm Thọ L – xã Nghĩa Kh – huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An; Dân tộc: kinh; nghề nghiệp: trồng trọt; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; con ông: Lê Thanh H - sinh năm 1974 và bà Nguyễn Hải Th – sinh năm 1977; Chồng: Phạm Văn V – sinh năm 1997 và 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại:

+ Anh Trần Xuân D, sinh năm 1993. Trú tại: Xóm Nam S – xã Kỳ Tr – huyện Kỳ Anh – tỉnh Hà Tĩnh. ( vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 20 giờ đêm ngày20/01/2017 anh Trần Xuân D, trú tại xóm Nam S, xã Kỳ Tr, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đang chơi đám cưới tại nhà ông Trần Văn Th ở xóm Hạ Kh, xã Nghĩa Kh, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An thì máy hết pin nên anh D vào nhà ông Th để tìm nơi sạc pin. Khi vào nhà anh D thấy một người phụ nữ (sau này mới biết tên là Lê Thị Thúy H) ngồi chơi một mình trên giường, anh D đưa điện thoại của mình nhờ cắm sạc pin hộ. H cắm sạc pin và để chiếc điện thoại di động mà anh D nhờ sạc trên tủ sập gỗ kê gần giường, H ngồi chơi một lúc, quan sát không thấy người nhờ cắm sạc pin đi đâu không rõ, không có ai để ý nên nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại di động nói trên đem về sử dụng. Lê Thị Thúy H lén lút lấy chiếc điện thoại đang sạc pin cất vào túi áo rồi đem về nhà cất giấuvào tủ quần áo của mình. Đến cuối tháng 02/2017 Lê Thị Thúy H lấy chiếc điện thoại di động mà H đã trộm cắp ra khỏi tủ rồi tháo sim có số thuê bao 0963302185 khỏi máy điện thoại và đưa chiếc sim cho chồng là Phạm Văn V sử dụng vào mạng Vietell, còn chiếc điện thoại thì H sử dụng. Ngày 12/4/2017 Ban công an xã Nghĩa Khánh, huyện Nghĩa Đàn tiếp nhận đơn trình báo của anh Trần Xuân D, qua quá trình xác minh Ban công an xã Nghĩa Khánh đã triệu tập Phạm Văn V để tiến hành làm rõ sự việc. Phạm Văn V khai nhận chiếc sim có số thuê bao 0963302185 do vợ mình là Lê Thị Thúy H đưa cho để sử dụng vào mạng, khi nhận và sử dụng chiếc sim thì Phạm Văn V không biết rõ nguồn gốc của chiếc sim do vợ mình trộm cắp mà có. Ngày 26/4/2017 nhận thấy hành vi của mình không thể trốn tránh pháp luật nên Lê Thị Thúy H đến cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Nghĩa Đàn đầu thú về hành vi phạm tội của mình, đồng thời giao nhận chiếc điện thoại di động mà H đã trộm cắp.

Chiếc máy điện thoại di động mà Lê Thị Thúy H đã trộm cắp của anh TrầnXuân D có đặc điểm: nhãn hiệu ASUS, loại máy Zenfone 5, màu đỏ, màn hình cảm ứng màu đen, số IMEI 1: 357996068084704, số IMEI 2: 3579960668084712 máy đã qua sử dụng.

Tại kết luận định giá tái sản số 19/HĐĐGTS ngày 04/5/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Nghĩa Đàn kết luận: 01 chiếc điện thoại di động của anh Trần Xuân D có đặc điểm nêu trên có giá trị 2.300.000 đồng ( hai triệu ba trăm nghìn đồng).

Cáo trạng số 45/VKS-HS ngày 02 tháng 8 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn đã truy tố Lê Thị Thúy H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Nghĩa Đàn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị hội đồng xét xử xử lý đối với bị cáo như sau:Xử phạt bị cáo Lê Thị Thúy H từ 6 – 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 -18 tháng . Về dân sự: Người bị hại không có yêu cầu bồi thường nên miễn xét.

Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt do đang phải nuôi con nhỏ.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bị hạivà những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nghĩa Đàn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thị Thúy H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã được thẩm tra lại tại phiên tòa hôm.Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã được thẩm tra lại tại phiên tòa hôm nay. Từ đó xác định được: Vào khoảng 20 giờ ngày 20/01/2017, Lê Thị Thúy H, trú tại xóm Thọ L, xã Nghĩa Kh, Nghĩa Đàn, Nghệ An có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh Trần Xuân D 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu ASUS đem về cất giấu trong tủ quần áo nhà mình, sau đó đến cuối tháng 02/2017 H tháo sim đưa cho chồng là Phạm Văn V sử dụng. Đến ngày 26/4/2017 Lê Thị Thúy H đã đến cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Nghĩa Đàn đầu thú, giao nộp chiếc điện thoại đã trộm cắp và khai nhận hành vi phạm tội của mình. Chiếc điện thoại mà Lê Thị Thúy H trộm cắp của anh D có trị giá 2.300.000 đồng ( hai triệu ba trăm nghìn đồng). Như vậy, Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Lê Thị Thúy H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng quy kết là có căn cứ pháp luật.

Đây là vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng do bị cáo Lê Thị Thúy H thực hiện với lỗi cố ý đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của anh Trần Xuân D, gây mất trật tự trị an tại địa phương do vậy cần phải xử lý nghiêm.

Xét tình tiết tăng nặng: Bị cáokhông có tình tiết tăng nặng.

Xét tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít ngiêm trọng, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, phạm tội khi đang mang thai. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, p, i khoản 1, khoản 2 điều 46Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự trên cơ sở cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, kết hợp với việc xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng do vậy thấy chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần xử phạt cải tạo không giam giữ giao bị cáo về cho chính quyền địa phương quản lý giáo dục cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.

Về dân sự: Vắng mặt tại phiên tòa nhưng người bị hại là anh Trần Xuân D không yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định dang nuôi con nhỏ nên không cần thiếtáp dụng hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáoLê Thị Thúy H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm h,i, p khoản 1, 2 Điều 46; điều 31 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Thị Thúy H 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan được giao quản lý nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Giao các bị cáo Lê Thị Thúy H về cho UBND xã Nghĩa Kh , huyện Nghĩa Đàn giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Buộc bị cáo Lê Thị Thúy H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáođược quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt người bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết bản án.


53
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 39/2017/HSST ngày 29/08/2017 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:39/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nghĩa Đàn - Nghệ An
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:29/08/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về