Bản án 39/2019/HNGĐ-ST ngày 14/06/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con tranh chấp cấp dưỡng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 39/2019/HNGĐ-ST NGÀY 14/06/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON TRANH CHẤP CẤP DƯỠNG

Ngày 14 tháng 6 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 331/2018/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2018 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 07 tháng 3 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lư Hồng H, sinh năm 1988

Địa chỉ cư trú: Ấp 6, xã KT, huyện UM, tỉnh CM (có mặt).

- Bị đơn: Anh Phạm Văn Th, sinh năm 1983

Địa chỉ cư trú: Ấp 1, xã KT, huyện UM, tỉnh CM (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Tại đơn xin ly hôn đề ngày 07 tháng 11 năm 2018 và tại phiên tòa chị Lư Hồng H trình bày:

Về hôn nhân: Chị Lư Hồng H và anh Phạm Văn Th tự nguyện đi đến hôn nhân vào năm 2007, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Khánh Tiến, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau. Trong thời gian chung sống vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn là do anh Th không lo làm ăn, không lo cho cuộc sống gia đình, hay chưởi bới chị, mặt dù được gia đình hai bên hàn gắn nhưng không kết quả nên đã ly thân. Chị Lư Hồng H yêu cầu ly hôn với anh Phạm Văn Th.

Về con chung: Có 1 cháu tên Phạm Hoàng Liêm, sinh ngày 31/5/2009, chị H yêu cầu được nuôi dưỡng và yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lư Hồng H xác định không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Chị Lư Hồng H khởi kiện yêu cầu ly hôn, yêu cầu nuôi con chung, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con đối với anh Phạm Văn Th, địa chỉ cư trú ấp 1, xã Khánh Tiến, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau, theo khoản 1, khoản 5 Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Tòa án đã triệu tập chị Lư Hồng H và anh Phạm Văn Th nhiều lần để tham gia phiên tòa sơ thẩm, chị H có mặt còn anh Th vắng mặt không lý do. Do đó, xét xử vắng mặt anh Th theo quy định tại khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Chị Lư Hồng H xác định chị với anh Phạm Văn Th tự nguyện đi đến hôn nhân vào năm 2007 có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Do đó, hôn nhân giữa chị H và anh Th là hợp pháp và được pháp luật công nhận.

Trong thời gian chung sống vợ chồng giữa chị H và anh Th phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được nên đã ly thân, chị H yêu cầu ly hôn với anh Th. Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và quyết định đưa vụ án ra xét xử nhiều lần nhưng anh Th vắng mặt không lý do, anh Th cũng không có ý kiến về việc chị H yêu cầu ly hôn. Từ đó, cho thấy tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh Th mâu thuẩn trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên cho chị Lư Hồng H ly hôn với anh Phạm Văn Th.

[3] Về con chung: Chị Lư Thị H yêu cầu được nuôi con chung tên Phạm Hoàng Liêm, sinh ngày 31/5/2009, nguyện vọng của cháu Liêm được do chị H nuôi dưỡng nên ghi nhận nguyện vọng của cháu. Mặt khác, từ khi chị H và anh Th ly thân nhau cháu Liêm do chị H nuôi dưỡng nên tiếp tục giao cháu Liêm cho chị H nuôi dưỡng là đảm bảo cho cháu Liêm có điều kiện phát triển bình thường, ổn định về tâm lý, tình cảm. Anh Phạm Văn Th có quyền thăm nom cháu Liêm không ai được cản trở.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Theo khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình quy định “cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Chị Lư Hồng H yêu cầu anh Phạm Văn Th cấp dưỡng nuôi cháu Liêm mỗi tháng 1.000.000 đồng là có căn cứ nên chấp nhận. Buộc anh Phạm Văn Th cấp dưỡng nuôi cháu Liêm mỗi tháng với số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng. Thời điểm cấp dưỡng nuôi con tính từ ngày 14/6/2019, cho đến khi cháu Liêm đủ 18 tuổi.

[4] Về tài sản chung, về nợ chung: Chị Lư Hồng H xác định không có, anh Phạm Văn Th cũng không có ý kiến gì nên không xem xét.

[5] Về án phí:

- Án phí hôn nhân và đình sơ thẩm chị Lư Hồng H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, chị H đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004040 ngày 08/11/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh được đối trừ chuyển thu. Theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Anh Phạm Văn Th có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con định kỳ theo quyết định của Tòa án nên phải chịu án phí với số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Theo quy định tại điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 220; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng: Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 107; Điều 116 và Điều 117 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Áp dụng điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lư Hồng H với anh Phạm Văn Th.

- Về con chung: Giao cháu Phạm Hoàng Liêm, sinh ngày 31/5/2009 cho chị Lư Hồng H nuôi dưỡng, cháu Liêm hiện do chị H nuôi dưỡng, chị H tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Phạm Văn Th có quyền thăm nom cháu Liêm không ai được cản trở.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh Phạm Văn Th cấp dưỡng nuôi cháu Phạm Hoàng Liêm, sinh ngày 31/5/2009 mỗi tháng với số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng. Thời điểm cấp dưỡng nuôi con tính từ ngày 14/6/2019, cho đến khi cháu Liêm đủ 18 tuổi.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành khoản tiền cấp dưỡng thì người phải thi hành án còn phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

- Về án phí:

+ Án phí hôn nhân và đình sơ thẩm chị Lư Hồng H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, chị H đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004040 ngày 08/11/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh được đối trừ chuyển thu.

+ Anh Phạm Văn Th phải chịu án phí với số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Án xử sơ thẩm các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị Bản án theo quy định của pháp luật.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.


20
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 39/2019/HNGĐ-ST ngày 14/06/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con tranh chấp cấp dưỡng

Số hiệu:39/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện U Minh - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:14/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về