Bản án 39/2019/HS-ST ngày 11/04/2019 về tội cướp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 39/2019/HS-ST NGÀY 11/04/2019 VỀ TỘI CƯỚP TÀI SẢN

Trong ngày 11 tháng 04 năm 2019, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2019/TLST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/HSST-QĐ ngày 14/3/2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2019/HSST-QĐ ngày 04/4/2019 đối với các bị cáo họ và tên:

1. Nguyễn Văn T, tên gọi khác: Q; giới tính: Nam; sinh năm 1992 tại Tp Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Đường L, khu phố A, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 02/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Tấn P1 và bà Nguyễn Thị Bích N; tại phiên tòa bị cáo khai có vợ (chung sống chưa đăng ký kết hôn), có 01 con sinh năm 2019; tiền án: Không; Tiền sự: Quyết định số 336/QĐ-UBND ngày 07/9/2017 của Ủy ban nhân dân phường Bình Thuận, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, thời gian là 03 tháng; về nhân thân: Bản án số 04/2008/HSST ngày 04/01/2008 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Cướp giật tài sản nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm kể từ ngày tuyên án; Quyết định số 296/QĐ-TA ngày 07/9/2015 của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghị bắt buộc; Bản án số 04/2019/HS-ST ngày 17/01/2019 của Tòa án nhân dân Quận 2 xử phạt 01 năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 29/7/2018, bị cáo hiện đang chấp hành Bản án số 04/2019/HS-ST ngày 17/01/2019 của Tòa án nhân dân Quận 2. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Đặng Lâm P, tên gọi khác: ./.; giới tính: Nam; sinh năm 1993 tại thành phố Cần Thơ, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã H, huyện L, tỉnh Long An; nơi cư trú: Đường L, khu phố A, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 08/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Đặng Văn T1 và bà Lâm Thị Tuyết N1; chưa có vợ con; tiền án: Không, tiền sự: Quyết định số 135/QĐ-TA ngày 18/10/2016 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng, kể từ ngày 31/7/2016; về nhân thân: Bản án số 312/2014/HSST ngày 12/8/2014 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Cướp giật tài sản; Bản án số 04/2019/HS-ST ngày 17/01/2019 của Tòa án nhân dân Quận 2 xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 29/7/2018, bị cáo hiện đang chấp hành Bản án số 04/2019/HS-ST ngày 17/01/2019 của Tòa án nhân dân Quận 2. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Nguyễn Tấn Đ, tên gọi khác: ./.; giới tính: Nam; sinh năm 1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ B, ấp L, xã H, huyện Q, tỉnh Bình Phước; nơi cư trú: Đường Đ, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 03/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Tấn P2 và bà Nguyễn Thị L1; có vợ (chung sống không đăng ký kết hôn) và 01 con sinh năm 2018; tiền án: Không, tiền sự: Quyết định số 12/QĐ-TA ngày 22/01/2016 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Tấn Đ là18 tháng, kể từ ngày 23/11/2015; về nhân thân: Bản án số 231/2014/HSST ngày 16/9/2014 của Toà án nhân dân Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội Cướp giật tài sản; Bản án số 04/2019/HS-ST ngày 17/01/2019 của Tòa án nhân dân Quận 2 xử phạt 01 năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 29/7/2018, bị cáo hiện đang chấp hành Bản án số 04/2019/HS-ST ngày 17/01/2019 của Tòa án nhân dân Quận 2. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại:

1/ Ông Hà Phi L, sinh năm 2000; địa chỉ: Đường T, phường H, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

2/ Bà Võ Ngân H, sinh năm 1989; địa chỉ: Ấp D, xã H, huyện B, tỉnh Đồng Tháp; tạm trú: Khu phố N, phường H, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Lê Văn T2, sinh năm 1986; địa chỉ: Chung cư P, phường O, quận M, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

2/ Ông Trần Thi V, sinh năm 1993; địa chỉ: Đường D, phường Z, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

3/ Ông Từ Chí T3, sinh năm 1971; địa chỉ: Đường Đ, phường Z, quận N, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

4/ Ông Trang Quốc B, sinh năm 1987; địa chỉ: Đường V, phường Z, quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 03 giờ ngày 20/5/2018, Nguyễn Văn T điều khiển xe máy chở Đặng Lâm P, P3 (chưa xác định được nhân thân lai lịch) điều khiển xe máy chở Nguyễn Tấn Đ chạy lòng vòng các tuyến đường Quận 7, tìm nơi vắng để cướp tài sản. Khi cả nhóm đi đến khu công viên ở góc đường A, khu phố F, phường H, quận B, thấy anh Hà Phi L đang ngồi trên ghế đá, tay cầm điện thoại chơi điện tử, bên cạnh dựng chiếc xe máy hiệu Wave màu trắng biển số 59F2-03724. Nên cả nhóm dừng xe, giả danh là Công an để kiểm tra giấy tờ và uy hiếp anh L, bị cả nhóm đe dọa uy hiếp nên anh L đã đưa bóp và điện thoại cho P3, còn Đ lấy xe anh L bỏ chạy thì L kéo xe lại làm ngã xe. Lúc này, T, P3, Đ, P đã đe dọa uy hiếp, định đánh anh L làm anh L hoảng sợ và cả nhóm lấy xe cùng tài sản tẩu thoát.

Sau khi chiếm đoạt tài sản, cả nhóm đem bán cho một người (không rõ nhân thân lai lịch) ở phường T, quận M được 7.500.000 đồng, chia đều nhau, mỗi người 1.850.000 đồng. Điện thoại P mua lại để sử dụng với giá 1.000.000 đồng, số tiền này chia đều cho 4 người, mỗi người 250.000 đồng, còn trong bóp có 400.000 đồng, các bị cáo chia mỗi người 100.000 đồng, cái bóp thì vứt bỏ. Sau khi xài hết tiền, P đem điện thoại bán tại tiệm điện thoại Z do ông Lê Văn T2 làm chủ và tiêu xài hết.

Đến khoảng 03 giờ ngày 17/7/2018, Đặng Lâm P và Nguyễn Văn T cùng với C (không rõ nhân thân lai lịch) đi từ quận E qua quận B, khi đi trước cổng khu vui chơi Y, thuộc khu phố N, phường H, quận B, thì thấy chị Võ Ngân H trên tay cầm 01 điện thoại đang đứng đón xe. Ban đầu, P và T cùng với C (không rõ nhân thân lai lịch) chọc ghẹo chị H. Sau đó, P, T và C đe dọa chị H, T dùng tay khống chế, chiếm đoạt điện thoại Iphone 6 plus của chị H đang cầm trên tay, rồi lên xe cả nhóm tẩu thoát. Sau khi lấy điện thoại P đem bán tại tiệm điện thoại Z được 1.200.000 đồng, số tiền này các bị cáo và tên C chia nhau tiêu xài.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Đặng Lâm P, Nguyễn Văn T, Nguyễn Tấn Đ đã khai nhận hành vi của mình.

Vật chứng vụ án:

- 01 điện thoại Samsung Galaxy S5 màu trắng của anh L bị các bị cáo chiếm đoạt, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả cho người bị hại anh L.

- 01 điện thoại Iphone 6plus màu vàng của chị Võ Ngân H bị T và P chiếm đoạt, Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu hồi trả lại cho người bị hại chị H.

Kết luận định giá tài sản số 216/KL-HĐĐGTTHS ngày 25/6/2018 của Hội đồng Định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Quận 7:

“- 01 xe gắn máy hiệu Honda Wave biển số 59F2-037.24, tính đến thời điểm bị xâm phạm có giá trị là 18.000.000 đồng (mười tám triệu đồng).

- 01 điện thoại Samsung S5 tính đến thời điểm bị xâm phạm có giá trị là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).”

Kết luận định giá tài sản số 491/KL-HĐĐGTTHS ngày 26/12/2018 của Hội đồng Định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Quận 7:

“- 01 điện thoại Iphone 6plus màu vàng tính đến thời điểm bị xâm phạm có giá trị là 4.500.000 đồng (bốn triệu, năm trăm ngàn đồng).”

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh L yêu cầu bồi thường giá trị xe gắn máy hiệu Honda Wave biển số 59F2-037.24 theo định giá là 18.000.000 đồng và số tiền để trong bóp của anh 400.000 đồng. 

Chị Võ Ngân H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì.

Bản Cáo trạng số 37/CT-VKSQ7 ngày 12/02/2019 Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đã truy tố các bị cáo Đặng Lâm P, Nguyễn Văn T, Nguyễn Tấn Đ về tội “Cướp tàisản” theo Khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Khoản 1 Điều 168; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt các bị cáo:

- Đặng Lâm P từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm tù;

- Nguyễn Văn T từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm tù;

Áp dụng Khoản 1 Điều 168; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo:

- Nguyễn Tấn Đ từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù.

Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 tổng hợp hình phạt của Bản án số 04/2019/HS-ST ngày 17/01/2019 của Tòa án nhân dân Quận 2, buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt chung.

Buộc các bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính để sung quỹ Nhà nước.

Áp dụng Điều 585 Bộ luật Dân sự năm 2015: Buộc các bị cáo liên đới bồi thường cho anh L số tiền 18.400.000 đồng.

Đối với người tên P3 và C (chưa xác định được nhân thân lai lịch), Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Đối với Lê Văn T2 chủ cửa hàng Z mua 02 điện thoại của Đặng Lâm P; ông Trang Quốc B, ông Từ Chí T3 mua lại điện thoại của ông T2, không biết đây là tài sản do phạm tội mà có, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 7 không truy cứu trách nhiệm hình sự là có căn cứ.

Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản Cáo trạng đã được tóm tắt như trên, không tự bào chữa, không tranh luận.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo, các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 7, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các đương sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa xét có đủ cơ sở để kết luận:

Trong các ngày 20/5/2018 và ngày 17/7/2018, các bị cáo T, Đ và P đã thực hiện 02 vụ cướp như sau:

- Vụ thứ nhất là do cả 03 bị cáo P, T, Đ và P3 cùng thực hiện, các bị cáo giả làm Công an, dùng số đông áp đảo, đe dọa, khống chế anh L để cướp tài sản là chiếc xe gắn máy, 01 điện thoại di động hiệu Samsung S5 và cái bóp trong đó có số tiền 400.000 đồng rồi bán chia nhau tiêu xài.

- Vụ thứ 2 là do 02 bị cáo T, P và C cùng thực hiện, đi cướp tài sản của chị Võ Ngân H 01 điện thoại Iphone 6 plus bán lấy tiền chia nhau tiêu xài;

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận các bị cáo thực hiện hành vi lấy số đông uy hiếp, đe dọa dùng vũ lực khống chế người bị hại để chiếm đoạt tài sản. Theo Kết luận định giá tài sản số 216/KL-HĐĐGTTHS ngày 25/6/2018 và số 491/KL-HĐĐGTTHS ngày 26/12/2018 của Hội đồng Định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Quận 7, các bị cáo T, Đ, P chiếm đoạt của anh Hà Phi L xe máy biển số 59F2-037.24 có giá trị 18.000.000 đồng và 01 điện thoại Samsung có giá trị là 2.000.000, 01 cái bóp bên trong có số tiền 400.000 đồng; các bị cáo T, P chiếm đoạt của chị Võ Ngân H 01 điện thoại Iphone 6 plus có giá trị 4.500.000 đồng. Do đó, các bị cáo đã phạm tội “Cướp tài sản” thuộc trường hợp được quy định tại Khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009. Các bị cáo là đồng phạm giản đơn, thống nhất cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là liều lĩnh, rất nghiêm trọng và nguy hiểm vì đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản sở hữu hợp pháp của công dân, gây hoang mang trong dư luận; ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an xã hội nên cần phải xử lý bằng biện pháp hình sự nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Đặng Lâm P, Nguyễn Văn T thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc trường hợp quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[5] Xử lý vật chứng:

- 01 điện thoại Samsung Galaxy S5 màu trắng của anh L Cơ quan điều tra đã thu hồi trả cho người bị hại anh L là phù hợp.

- 01 điện thoại Iphone 6 plus màu vàng của chị Võ Ngân H Cơ quan điều tra đã thu hồi trả cho người bị hại chị H là có căn cứ.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Chị H đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì; anh L yêu cầu các bị cáo bồi thường giá trị chiếc xe gắn máy là 18.000.000 đồng và số tiền 400.000 đồng; tại phiên tòa các bị cáo đồng ý bồi thường nên ghi nhận, buộc các bị cáo có trách nhiệm liên đới bồi thường cho anh L số tiền 18.400.000 đồng.

Đối với Lê Văn T2 (chủ cửa hàng Z) đã mua 02 điện thoại của bị cáo P bán lại cho ông Trang Quốc B, Từ Chí T3 sử dụng; các ông T2, B và T3 khi mua không biết tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự là phù hợp.

Ông Trang Quốc B, Lê Văn T2 tự nguyện giao nộp 02 điện thoại di động đã mua, không có yêu cầu gì đối với các bị cáo, tại phiên tòa vắng mặt nên không xét.

[7] Buộc các bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính.

[8] Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Các bị cáo Đặng Lâm P, Nguyễn Văn T, Nguyễn Tấn Đ cùng phạm tội “Cướp tài sản”.

1. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 168; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Đặng Lâm P 04 (bốn) năm tù.

Căn cứ Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Tổng hợp hình phạt với Bản án số 04/2019/HS-ST ngày 17/01/2019 của Tòa án nhân dân Quận 2, Tp. HCM xử phạt bị cáo 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 06 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/7/2018.

2. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 168; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 04 (bốn) năm tù.

Căn cứ Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Tổng hợp hình phạt với Bản án số 04/2019/HS-ST ngày 17/01/2019 của Tòa án nhân dân Quận 2, Tp. HCM xử phạt bị cáo 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 29/7/2018.

3. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 168; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn Đ 03 (ba) năm tù.

Căn cứ Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Tổng hợp hình phạt với Bản án số 04/2019/HS-ST ngày 17/01/2019 của Tòa án nhân dân Quận 2, Tp. HCM xử phạt bị cáo 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/7/2018.

4. Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 585, 587 Bộ luật Dân sự năm 2015:

4.1. Buộc các bị cáo Đặng Lâm P, Nguyễn Văn T, Nguyễn Tấn Đ phải liên đới bồi thường cho anh Hà Phi L số tiền 18.400.000 (mười tám triệu bốn trăm ngàn) đồng.

4.2. Buộc các bị cáo Đặng Lâm P, Nguyễn Văn T mỗi bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 650.000 (sáu trăm năm mươi ngàn) đồng.

4.3. Buộc bị cáo Nguyễn Tấn Đ nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 250.000 (hai trăm năm mươi ngàn) đồng.

5. Về án phí: Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm 306.700 (ba trăm lẻ sáu ngàn, bảy trăm) đồng.

6. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Căn cứ vào các Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đối với các trường hợp Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền chủ động ra quyết định thi hành án về khoản tiền các bị cáo phải nộp lại để sung quỹ Nhà nước hoặc kể từ ngày anh Hà Phi L có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền các bị cáo phải liên đới bồi thường cho anh L, nếu các bị cáo chưa thi hành các khoản tiền trên thì hàng tháng các bị cáo còn phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành tại thời điểm thi hành.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

7. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, các bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.


116
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về