Bản án 40/2018/DSST ngày 07/09/2018 về hôn nhân và gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 40/2018/DSST NGÀY 07/09/2018 VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Trong ngày 07 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 36/2018/ TLST – HNGĐ ngày 04/4/2018 về tranh chấp hôn nhân gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2018/QĐXX – ST ngày 26 tháng  7  năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị  Lê Thị O  - Sinh năm 1992 (vắng mặt).

Nguyên quán: Xã L, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi đăng ký HKTT: Thôn G, xã X, thành phố B, tỉnh Thái Bình

Bị đơn: Anh Bùi Văn T - Sinh năm 1993(vắng mặt).

Nơi cư trú: Thôn G, xã  X, thành phố B, tỉnh Thái Bình

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của chị O trình bày: Chị O kết hôn với anh T từ ngày 09/5/2014 có đăng ký kết hôn tại UBND xã X, thành phố B. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận được khoảng 2 năm thì mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp nhau và bất đồng quan điểm sống. Vì thế cuộc sống vợ chồng luôn căng thẳng áp lực không có hạnh phúc dẫn tới tình cảm vợ chồng không còn. Vợ chồng có xảy ra va chạm cãi nhau. Vợ chồng đã tự giải quyết với nhau nhiều lần và được gia đình khuyên bảo giúp đỡ nhưng không có kết quả. Chị O đã thuê nhà sống ly thân từ tháng 4/2016 đến nay. Chị O đã hai lần viết đơn ly hôn anh T đã ký đồng ý. Nay xét thấy vợ chồng không thể chung sống hạnh phúc chị O tiếp tục xin ly hôn với anh T.

2. Về quan hệ con chung: Vợ chồng có một con chung là Bùi Thị Bảo A, sinh ngày 24/12/2014. Hiện nay con chung đang sống với anhT. Ly hôn, chị O nhường quyền nuôi con cho anh T, chị O có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3 . Về quan hệ tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Bùi Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng không đến Tòa án. Tại bản tự khai của ông Bùi Văn T và bà Bùi Thị X là bố mẹ đẻ của anh T cung cấp cho Tòa án thể hiện: Gia đình đã  nhận được giấy triệu tập và thông báo thụ lý vụ án của Tòa án gửi về cho anh T nhưng hiện nay anh T không có mặt ở nhà anh T đang đi làm ăn ở xa không có địa chỉ cụ thể, anh T chỉ liên lạc với gia đình qua mạng điện thoại. Gia đình đã thông báo cho anh T biết nội dung việc Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình thụ lý giải quyết vụ án về việc chị O xin ly hôn với anh T. Anh T có thông tin lại với gia đình quan điểm giải quyết vụ án là vẫn giữ nguyên quan điểm đồng ý ly hôn với chị O như đơn ly hôn anh T đã ký. Về con chung anh T xin được nuôi con chung Bùi Thị Bảo A, sinh ngày 24/12/2014. Về tài sản không có gì . Ông T và bà X cam kết sẽ nhận và thông báo kịp thời nội dung giấy tờ tài liệu Tòa án gửi về cho anh T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng anh T không có mặt tại phiên tòa. Chị O có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy Tòa án căn cứ điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị O kết hôn với anh T từ ngày 09/5/2014 có đăng ký kết hôn tại UBND xã X, thành phố B là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp. Vợ chồng đã tự giải quyết mâu thuẫn và được gia đình giúp đỡ nhưng không có kết quả. Chị O đã bỏ đi sống ly thân từ tháng 4/2016. Vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay không quan tâm đến nhau. Năm 2016 chị O đã làm đơn ly hôn anh T đã ký đồng ý ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, ly thân kéo dài  mục đích hôn nhân không đạt được nên xử cho chị O được ly hôn với anh T.

[3]Về con chung: Xét thấy con chung đang được anh T nuôi dưỡng ổn định, anh T có nguyện vọng xin được nuôi con. Chị O có ý kiến do điều kiện nuôi con của chị O hiện nay có khó khăn không có chỗ ở ổn định nên nguyện vọng của chị O để anh T tiếp tục nuôi con chung, chị O có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Xét thấy vì quyền lợi của con nên xử giao cho anh T được trực tiếp nuôi dưỡng con chung  Bùi Thị Bảo A, sinh ngày 24/12/2014. Chị O phải cấp dưỡng nuôi con chung cho anh T mỗi tháng 700.000 đồng kể từ tháng 9 năm 2018 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị O  có quyền thăm nom con chung không ai được ngăn cản. Hai bên đều có quyền thay đổi nuôi con theo quy định của pháp luật.

[4] Về  tài sản chung: Chị O không đề nghị Tòa án giải quyết. Anh T chưa có ý kiến gì nên không đặt ra giải quyết trong vụ án này.

[5] Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 51; 56; 81;82; 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị O được ly hôn với anh Bùi Văn T.

2/ Về con chung: Xử giao cho anh T được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Bùi Thị Bảo A, sinh ngày 24/12/2014. Chị O phải cấp dưỡng nuôi con chung cho anh T mỗi tháng 700.000 đồng kể từ tháng 9 năm 2018 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị O có quyền thăm nom con chung không ai được ngăn cản. Hai bên đều có quyền thay đổi nuôi con theo quy định của pháp luật.

3/ Về  tài sản chung: Không đặt giải quyết trong vụ án này.

4/ Về án phí: Chị O phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn và 300.000 đồng án phí về cấp dưỡng nuôi con. Khấu trừ số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí biên lai số 000 6962 ngày  04/4/2018. Chị O còn phải nộp 300.000 đồng.

5/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.


66
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 40/2018/DSST ngày 07/09/2018 về hôn nhân và gia đình

Số hiệu:40/2018/DSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thái Bình - Thái Bình
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:07/09/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về