Bản án 40/2018/DS-ST ngày 08/11/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 40/2018/DS-ST NGÀY 08/11/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 08 tháng 11 năm 2018 tại Hội trường xét xử, Toà án nhân dân quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 93/2018/TLST-DS ngày 11 tháng 7 năm 2018 về “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2018/QĐXX-ST ngày 08 tháng 10 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 51/2018/QĐXX ngày 23.10.2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần TP (TPBank). Địa chỉ: Tòa nhà TPBank số 57 Lý Thường Kiệt, quận Hoàn Kiếm, Tp Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Minh P - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị. Địa diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Văn T hoặc Đỗ Tuấn Thoại hoặc Nguyễn Xuân C. (Theo giấy ủy quyền số 031/2018/GUQ-TPB.BĐH ngày 12.3.2018). có mặt

- Bị đơn: Ông Đinh N - sinh năm 1978 và bà Phạm Thị Tú A - sinh năm 1985; Cùng trú tại: Tổ 31 TT, phường HHB, quận L, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt lần thứ hai không có lý do

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Trong đơn khởi kiện cũng như quá trình giải quyết ông Hoàng Văn Tuyên là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 23.3.2016, ông Đinh N và bà Phạm Thị Tú A có ký Hợp đồng tín dụng số 193.220316/HĐTDHMTC/DNG ngày 23.3.2016 vay số tiền 250.000.000 đồng, mục đích vay thấu chi tiêu dùng, thời hạn vay là 12 tháng. Thực hiện hợp đồng trên ông Đinh N và bà Phạm Thị Tú A đã được Ngân hàng giải ngân só tiền trên. Kèm theo hợp đồng vay có Hợp đồng thế chấp tài sản số 193.01.220316/HĐTC/DNG ngày 23.3.2016, tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 27, tờ bản đồ số 100, diện tích 129,1 m2 tọa lạc tại: Tổ 35, phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 639252 do UBND quận Liên Chiểu cấp ngày 29.10.2009 đứng tên ông Đinh N và bà Phạm Thị Tú A.

Vào ngày 06.4.2016, ông Đinh N và bà Phạm Thị Tú A có ký Hợp đồng tín dụng số 224.050416/HĐTDTDH/DNG ngày 06.4.2016 kèm theo Phụ lục hợp đồng số 01 (bản sao) vay số tiền 486.000.000 đồng, mục đích vay tiêu dùng. Thực hiện hợp đồng trên ông Đinh N và bà Phạm Thị Tú A đã được Ngân hàng giải ngân só tiền trên. Kèm theo hợp đồng vay có Hợp đồng thế chấp tài sản số 224.01.050416/HĐTC/DNG ngày 06.4.2016, tài sản bảo đảm là 01 chiếc xe Ô tô nhãn hiệu HUYNDAI I20 ACTIVE theo giấy chứng nhận đăng ký xe xe Ô tô số 020936 do Phòng cảnh sát giao thông - Công an thành phố Đà Nẵng cấp ngày 04.4.2016 đứng tên ông Đinh N.

Trong quá trình trả nợ vay, ông N và bà A đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ không thanh toán nợ cho Ngân hàng. Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, gửi thông báo về việc thu hồi nợ nhưng ông N và bà A không thanh toán nợ như đã cam kết làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của Ngân hàng. Nay Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) yêu cầu Tòa án buộc ông Đinh N và bà Phạm Thị Tú A thanh toán số nợ còn lại tính đến ngày 07.8.2018 là 673.589.491 đồng (Sáu trăm bảy mươi ba triệu, năm trăm tám mươi chín ngàn, bốn trăm chín mươi mốt đồng). Trong đó:

- Khoản tiền vay của xe tính đến ngày 7.8.2018 là 339.332.763 đồng. Trong đó tiền gốc là 324.000.000 đồng, lãi trong hạn là 14.148.009 đồng, lãi quá hạn là 1.184.754 đồng.

- Khoản tiền vay nhà tính đến ngày 7.8.2018 là 334.256.728 đồng. Trong đó tiền gốc là 270.096.942 đồng, tiền lãi là 64.159.786 đồng.

Đối với tài sản thế chấp: là tại thửa số 27, tờ bản đồ số 100, diện tích 129,1 m2 tọa lạc tại: Tổ 35, phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 639252 do UBND quận Liên Chiểu cấp ngày 29.10.2009 đứng tên ông Đinh N bà Phạm Thị Tú A và 01 chiếc xe Ô tô nhãn hiệu HUYNDAI I20 ACTIVE theo giấy chứng nhận đăng ký xe xe Ô tô số 020936 do Phòng cảnh sát giao thông - Công an thành phố Đà Nẵng cấp ngày 04.4.2016 đứng tên ông Đinh Ngọc.

Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ vào ngày 21.9.2018 thể hiện:

* Về Nhà và đất: - Về tứ cận: Đông: giáp đường kiệt bê tông; Bắc: giáp nhà bà Thọ; Nam: giáp nhà ông Phong; Tây: giáp tường rào Trường Cao đẳng giao thông vận tải. - Về diện tích: số AM 639252 do UBND quận Liên Chiểu cấp ngày 29.10.2009 đứng tên ông Đinh Ngọc bà Phạm Thị Tú An - Kết cấu nhà: nhà một tầng, mái tôn, tường xây diện tích nhà (diện tích xây dựng) 129,1m2.

- Về xe ô tô: 01 chiếc xe Ô tô nhãn hiệu HUYNDAI I20 ACTIVE theo giấy chứng nhận đăng ký xe xe Ô tô số 020936 do Phòng cảnh sát giao thông - Công an thành phố Đà Nẵng cấp ngày 04.4.2016 đứng tên ông Đinh N là xe loại 5 chổ biển kiểm soát 43A-196.49, màu trắng

Nếu ông Đinh N và bà Phạm Thị Tú A không thanh toán được số nợ nêu trên thì Ngân hàng được đề nghị phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

* Trong quá trình tham gia tố tụng bị đơn ông Đinh N và bà Phạm Thị Tú A trình bày: Vào ngày 23.3.2016, chúng tôi là Đinh N và bà Phạm Thị Tú A có ký Hợp đồng tín dụng số 193.220316/HĐTDHMTC/DNG ngày 23.3.2016 vay số tiền 250.000.000 đồng và ngày 06.4.2016, ông Đinh N và bà Phạm Thị Tú A có ký Hợp đồng tín dụng số 224.050416/HĐTDTDH/DNG ngày 06.4.2016 kèm theo Phụ lục hợp đồng số 01 (bản sao) vay số tiền 486.000.000 đồng.

Kèm theo hợp đồng vay có Hợp đồng thế chấp tài sản số 193.01.220316/HĐTC/DNG ngày 23.3.2016, tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất và Hợp đồng thế chấp tài sản số 224.01.050416/HĐTC/DNG ngày 06.4.2016, tài sản bảo đảm là 01 chiếc xe Ô tô nhãn hiệu HUYNDAI I20 ACTIVE như Ngân hàng đã nêu.

Nay vì làm ăn thua lỗ, gặp nhiều khó khăn nên vợ chồng chúng tôi đã không thanh toán được số nợ trên cho Ngân hàng. Nay vợ chồng chúng tôi xin được thanh toán như sau: Đến ngày 10.9.2018 thanh toán toàn bộ số nợ vay theo Hợp đồng tín dụng số 193.220316/HĐTDHMTC/DNG ngày 23.3.2016 trong đó tài sản thế chấp là nhà và đất.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu:

- Về thủ tục tố tụng: về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Theo đó việc thụ lý vụ án, tổ chức hòa giải, thu thập chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng và việc chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu của Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đều thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

-Về nội dung vụ án: đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ tính đến ngày 07.8.2018 là 673.589.491 đồng, (trong đó nợ gốc là 594.096.942 đồng, lãi trong hạn là 78.307.795 đồng, lãi quá hạn là 1.184.754 đồng) và lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 193.220316/HĐTDHMTC/DNG ngày 23.3.2016 và Hợp đồng tín dụng số 224.050416/HĐTDTDH/DNG ngày 06.4.2016 kèm theo Phụ lục hợp đồng số 01 tính từ ngày 08.8.2018 cho đến khi thanh toán xong khoản tiền vay.

Trong trường hợp bị đơn không trả được nợ thì đề nghị xử lý tài sản thế chấp theo quy định tại Điều 303 Bộ luật dân sự.

Án phí dân sự sơ thẩm bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa Ngân hàng TMCP Tiên Phong với ông Đinh Ng và bà Phạm Thị Tú A thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu theo quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải:

Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho đương sự vắng mặt theo quy định tại Điều 208, 209, 210, 211 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không xuất trình thêm chứng cứ mới.

Tại phiên toà lần thứ nhất ngày 23.10.2018 và cũng như phiên toà hôm nay Toà án đã triệu tập, niêm yết công khai Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà đối với bị đơn là ông Đinh N và bà Phạm Thị Tú A nhưng ông N và bà Tú A vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt ông N và bà Tú A.

[2] Về nội dung vụ án: Xét yêu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TP Bank) với ông Đinh N và bà Phạm Thị Tú A thì thấy:

Vào ngày 23.3.2016, ông Đinh N và bà Phạm Thị Tú A có ký Hợp đồng tín dụng số 193.220316/HĐTDHMTC/DNG ngày 23.3.2016 vay số tiền 250.000.000 đồng, mục đích vay thấu chi tiêu dùng. Thực hiện hợp đồng trên ông N và bà Tú A đã được Ngân hàng giải ngân số tiền trên. Kèm theo hợp đồng vay có Hợp đồng thế chấp tài sản số 193.01.220316/HĐTC/DNG ngày 23.3.2016, tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 27, tờ bản đồ số 100, diện tích 129,1 m2 tọa lạc tại: Tổ 35, phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 639252 do UBND quận Liên Chiểu cấp ngày 29.10.2009 đứng tên ông Đinh N và bà Phạm Thị Tú A.

Vào ngày 06.4.2016, ông Đinh N và bà Phạm Thị Tú A có ký Hợp đồng tín dụng số 224.050416/HĐTDTDH/DNG ngày 06.4.2016 kèm theo Phụ lục hợp đồng số 01 (bản sao) vay số tiền 486.000.000 đồng, mục đích vay tiêu dùng. Thực hiện hợp đồng trên ông N và bà Tú A đã được Ngân hàng giải ngân số tiền trên. Kèm theo hợp đồng vay có Hợp đồng thế chấp tài sản số 224.01.050416/HĐTC/DNG ngày 06.4.2016, tài sản bảo đảm là 01 chiếc xe Ô tô nhãn hiệu HUYNDAI I20 ACTIVE theo giấy chứng nhận đăng ký xe xe Ô tô số 020936 do Phòng cảnh sát giao thông - Công an thành phố Đà Nẵng cấp ngày 04.4.2016 đứng tên ông Đinh N.

Trong quá trình trả nợ vay, ông N và bà A đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ không thanh toán nợ cho Ngân hàng. Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, gửi thông báo về việc thu hồi nợ nhưng ông N và bà A không thanh toán nợ như đã cam kết làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của Ngân hàng. Nay Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) yêu cầu Tòa án buộc ông Đinh N và bà Phạm Thị Tú A thanh toán số nợ còn lại tính đến ngày 07.8.2018 là 673.589.491 đồng (Sáu trăm bảy mươi ba triệu, năm trăm tám mươi chín ngàn, bốn trăm chín mươi mốt đồng). Trong đó:

- Khoản tiền vay của xe tính đến ngày 7.8.2015 là 339.332.763 đồng. Trong đó tiền gốc là 324.000.000 đồng, lãi trong hạn là 14.148.009 đồng, lãi quá hạn là 1.184.754 đồng.

- Khoản tiền vay nhà đến ngày 7.8.2018 là 334.256.728 đồng. Trong đó tiền gốc là 270.096.942 đồng, tiền lãi là 64.159.786 đồng.

Tại phiên tòa, đại diện TPBank yêu cầu ông N và bà Tú A thanh lý toàn bộ hợp đồng, trả một lần cho TPBank số nợ tính đến ngày 07.8.2018 là 673.589.491 đồng, (trong đó nợ gốc là 594.096.942 đồng, lãi trong hạn là 78.307.795 đồng, lãi quá hạn là 1.184.754 đồng) và lãi phát sinh theo hai hợp đồng tính từ ngày 08.8.2018 cho đến khi thanh toán xong khoản tiền vay.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Đinh N và bà Phạm Thị Tú A xác nhận còn nợ TP Bank số tiền như trên nhưng do điều kiện kinh tế khó khăn nên xin được thanh toán như sau: Đến ngày 10.9.2018 thanh toán toàn bộ số nợ vay theo Hợp đồng tín dụng số 193.220316/HĐTDHMTC/DNG ngày 23.3.2016 trong đó tài sản thế chấp là nhà và đất. Còn khoản vay đối với thế chấp xe xin trả dần theo Hợp đồng tín dụng.

[3] Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào các chứng cứ có tại hồ sơ cũng như trong quá trình giải quyết bị đơn ông N và bà Tú A xác định hiện còn nợ TP Bank số tiền nợ tính đến ngày 07.8.2018 là 673.589.491 đồng, (trong đó nợ gốc là 594.096.942 đồng, lãi trong hạn là 78.307.795 đồng, lãi quá hạn là 1.184.754 đồng) và lãi phát sinh theo hai hợp đồng tính từ ngày 08.8.2018 cho đến khi thanh toán xong khoản tiền vay. Nên yêu cầu khởi kiện đòi tiền vay của TP Bank đối với ông N và bà Tú A là có căn cứ, phù hợp Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2005, khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng. Vì quá trình vay tiền ông N và bà Tú A đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết, do đó HĐXX chấp nhận yêu cầu của đại diện TP Bank, buộc ông N và bà Tú A phải trả cho TP Bank số tiền tính đến ngày 07.8.2018 là 673.589.491 đồng (Sáu trăm bảy mươi ba triệu, năm trăm tám mươi chín ngàn, bốn trăm chín mươi mốt đồng), cụ thể

- Khoản tiền vay của xe tính đến ngày 7.8.2018 là 339.332.763 đồng. Trong đó tiền gốc là 324.000.000 đồng, lãi trong hạn là 14.148.009 đồng, lãi quá hạn là 1.184.754 đồng và lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 224.050416/HĐTDTDH/DNG ngày 06.4.2016 tính từ ngày 08.8.2018 cho đến khi thanh toán xong khoản tiền vay

- Khoản tiền vay nhà tính đến ngày 7.8.2018 là 334.256.728 đồng. Trong đó tiền gốc là 270.096.942 đồng, tiền lãi là 64.159.786 đồng và lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 193.220316/HĐTDHMTC/DNG ngày 23.3.2016 tính từ ngày 08.8.2018 cho đến khi thanh toán xong khoản tiền vay.

[4] Xử lý tài sản thế chấp: Trường hợp ông Đinh N và bà Phạm Thị Tú A không trả số tiền nêu trên thì tài sản mà ông N và bà Tú A đã thế chấp cho TP Bank là: Nhà và đất tại thửa số 27, tờ bản đồ số 100, diện tích 129,1 m2 tọa lạc tại: Tổ 35, phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 639252 do UBND quận Liên Chiểu cấp ngày 29.10.2009 đứng tên ông Đinh Ngọc bà Phạm Thị Tú An và 01 chiếc xe Ô tô nhãn hiệu HUYNDAI I20 ACTIVE theo giấy chứng nhận đăng ký xe xe Ô tô số 020936 do Phòng cảnh sát giao thông - Công an thành phố Đà Nẵng cấp ngày 04.4.2016 đứng tên ông Đinh N là xe loại 5 chổ biển kiểm soát 43A-196.49, màu trắng.

Các bên đã làm đầy đủ thủ tục thế chấp tài sản theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 193.01.220316/HĐTC/DNG ngày 23.3.2016 và Hợp đồng thế chấp tài sản số 224.01.050416/HĐTC/DNG ngày 06.4.2016 tại Văn phòng Công chứng Trọng tâm thành phố Đà Nẵng và đăng ký quyền sử dụng đất tại Phòng Tài nguyên và Môi trường quận Liên Chiểu, Tp Đà Nẵng và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Đà Nẵng.

Qua xem xét, thẩm định tại chỗ vào ngày 21.9.2018 thể hiện: tài sản thế chấp không có thay đổi gì so với Hợp đồng đã thế chấp số 193.01.220316/HĐTC/DNG ngày 23.3.2016 và Hợp đồng đã thế chấp số 224.01.050416/HĐTC/DNG ngày 06.4.2016 tại TP Bank.

Ngân hàng TP Bank có quyền yêu cầu xử lý phát mãi tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật (Điều 303 BLDS 2015).

Khi ông Đinh N và bà Phạm Thị Tú A thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng TP Bank thì Ngân hàng phải có trách nhiệm trả cho ông Ngọc và bà Tú An: 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 639252 do UBND quận Liên Chiểu cấp ngày 29.10.2009 đứng tên ông Đinh N bà Phạm Thị Tú A và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe xe Ô tô số 020936 do Phòng cảnh sát giao thông - Công an thành phố Đà Nẵng cấp ngày 04.4.2016 đứng tên ông Đinh N cho ông Đinh N và bà Phạm Thị Tú A.

[5] Án phí Dân sự sơ thẩm:

+ Ông Đinh N và bà Phạm Thị Tú A phải chịu là 30.943.580 đồng (ba mươi triệu, chín trăm bốn mươi ba ngàn, năm trăm tám mươi đồng).

+ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Tiên Phong (TPBank) không phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm nên được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí 15.250.000 đồng (mười lăm triệu, hai trăm năm mươi ngàn đồng) theo Biên lai thu số 0003041 ngày 11.7.2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2005;

- Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;

- Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận đơn khởi kiện Ngân hàng Thương mại Cổ phần Tiên Phong (TPBank) đối với ông Đinh N và bà Phạm Thị Tú A về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

1. Buộc ông Đinh N và bà Phạm Thị Tú A phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Tiên Phong số tiền nợ tính đến ngày 07.8.2018 là 673.589.491 đồng (Sáu trăm bảy mươi ba triệu, năm trăm tám mươi chín ngàn, bốn trăm chín mươi mốt đồng), cụ thể:

- Khoản tiền vay của xe tính đến ngày 7.8.2015 là 339.332.763 đồng. Trong đó tiền gốc là 324.000.000 đồng, lãi trong hạn là 14.148.009 đồng, lãi quá hạn là 1.184.754 đồng và lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 224.050416/HĐTDTDH/DNG ngày 06.4.2016 tính từ ngày 08.8.2018 cho đến khi thanh toán xong khoản tiền vay

- Khoản tiền vay nhà tính đến ngày 7.8.2018 là 334.256.728 đồng. Trong đó tiền gốc là 270.096.942 đồng, tiền lãi là 64.159.786 đồng và lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 193.220316/HĐTDHMTC/DNG ngày 23.3.2016 tính từ ngày 08.8.2018 cho đến khi thanh toán xong khoản tiền vay.

Trường hợp ông Đinh N và bà Phạm Thị Tú A không trả số tiền nêu trên thì tài sản mà ông N và bà Tú A đã thế chấp cho TP Bank là: Nhà và đất tại thửa số 27, tờ bản đồ số 100, diện tích 129,1 m2 tọa lạc tại: Tổ 35, phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 639252 do UBND quận Liên Chiểu cấp ngày 29.10.2009 đứng tên ông Đinh N và bà Phạm Thị Tú A và 01 chiếc xe Ô tô nhãn hiệu HUYNDAI I20 ACTIVE theo giấy chứng nhận đăng ký xe xe Ô tô số 020936 do Phòng cảnh sát giao thông - Công an thành phố Đà Nẵng cấp ngày 04.4.2016 đứng tên ông Đinh Ngọc là xe loại 5 chổ biển kiểm soát 43A-196.49, màu trắng được xử lý phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật  theo Điều 303 Bộ Luật dân sự 2015

Sau khi ông Đinh N và bà Phạm Thị Tú A thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng TP Bank thì Ngân hàng phải có trách nhiệm trả cho ông Ngọc và bà Tú An: 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 639252 do UBND quận Liên Chiểu cấp ngày 29.10.2009 đứng tên ông Đinh Nvà bà Phạm Thị Tú A và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe xe Ô tô số 020936 do Phòng cảnh sát giao thông - Công an thành phố Đà Nẵng cấp ngày 04.4.2016 đứng tên ông Đinh N cho ông Đinh Ngọc và bà Phạm Thị Tú A.

2. Án phí Dân sự sơ thẩm:

+ Ông Đinh N và bà Phạm Thị Tú A phải chịu là 30.943.580 đồng (ba mươi triệu, chín trăm bốn mươi ba ngàn, năm trăm tám mươi đồng).

+ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Tiên Phong (TPBank) không phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm nên được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí 15.250.000 đồng (mười lăm triệu, hai trăm năm mươi ngàn đồng) theo Biên lai thu số 0003041 ngày 11.7.2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


27
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 40/2018/DS-ST ngày 08/11/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:40/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Liên Chiểu - Đà Nẵng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:08/11/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về