Bản án 40/2019/DS-ST ngày 03/07/2019 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 40/2019/DS-ST NGÀY 03/07/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 03 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 316/2019/TLST-DS ngày 06 tháng 12 năm 2018 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2019/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thanh H, sinh năm 1970 (Có mặt).

Địa chỉ: Số X, ấp BT, xã T M C, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Bùi Lưu Lạc - Văn phòng luật sư Lạc Huy thuộc Đoàn luật sư tỉnh Tiền Giang (Có mặt).

* Bị đơn: Ông Dương Hoàng V, sinh năm 1978 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số Z đườngTNH, phường F, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải bà Lê Thị Thanh H trình bày:

Do mối quan hệ lối xóm, vào ngày 19/12/2017 bà có cho Dương Hoàng V mượn số tiền 150.000.000 đồng, có làm giấy mượn tiền hai bên thỏa thuận V trả tiền lãi cho bà mỗi tháng 10% (15.000.000 đồng). Kể từ ngày mượn là ngày 19/12/2017 đến đầu tháng 2/2018 thì trả tiền gốc mỗi tháng là 15.000.000 đồng cho đến khi hết số tiền trên. Tuy nhiên kể từ ngày 19/12/2017 đến nay V không thực hiện lời cam kết trả tiền lãi và tiền gốc cho bà như đã thỏa thuận, bà đã nhiều lần đến nhà yêu cầu V thực hiện theo nội dung giấy mượn tiền nhưng V cố tình lánh mặt hẹn lần hẹn lựa nhằm cố ý muốn chiếm đoạt số tiền của bà. Bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Dương Hoàng V trả cho bà số tiền gốc là 150.000.000 đồng + tiền lãi theo lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước qui định tương ứng với số tiền tạm tính là 12.000.000 đồng, thực hiện một lần khi án có hiệu lực pháp luật.

* Bị đơn ông Dương Hoàng V đã được Tòa án tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo qui định của pháp luật nhưng ông vắng mặt trong các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng không có văn bản trình bày ý kiến.

Tại phiên tòa, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền gốc là 150.000.000 đồng, không yêu cầu tiền lãi.

Bị đơn vắng mặt.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền gốc, không yêu cầu số tiền lãi xem như có lợi cho bị đơn đề nghị Hội đồng xet xử ghi nhận. Đối với bị đơn vắng mặt xem như từ bỏ các quyền của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn theo các chứng cứ của nguyên đơn cung cấp.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử từ khi thụ lý đến phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đúng qui định pháp luật tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện cơ bản quyền và nghĩa vụ của mình. Về nội dung giải quyết vụ án, bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng cũng không có văn bản trình bày ý kiến xem như đã thừa nhận chứng cứ do nguyên đơn cung cấp. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào giấy mượn tiền do bà Lê Thị Thanh H cung cấp thể hiện ông Dương Hoàng V mượn của bà số tiền 150.000.000 đồng, có thể hiện tiền lời mỗi tháng là 15.000.000 đồng, có ký tên Dương Hoàng V. Như vậy hai bên đã xác lập giao dịch vay tài sản, có lãi. Theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 26, khoản a điểm 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Theo biên bản xác minh ngày 26/02/2019, ông Dương Hoàng V có đăng ký thường trú tại địa chỉ số Z đường T N H, khu phố F, phường F, thành phố Mỹ Tho nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho.

[1.2] Ông Dương Hoàng V đã được Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định tại các Điều 174, 177 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng ông V vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông V.

[2] Về nội dung:

Qua lời trình bày tại phiên tòa của nguyên đơn và căn cứ vào giấy mượn tiền do nguyên đơn cung cấp, ông V đã vi phạm các thỏa thuận đã cam kết nên bà H khởi kiện yêu cầu ông V trả số tiền 150.000.000 đồng, thực hiện ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

[2.1] Xét yêu cầu đối với số tiền vốn là 150.000.000 đồng. Căn cứ vào giấy mượn tiền theo lời trình bày của nguyên đơn là do ông V tự viết và ký tên. Ông V đã được tống đạt các văn bản tố tụng nhưng ông vắng mặt không có lý do cũng không có văn bản trình bày ý kiến. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự để xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn trên cơ sở tài liệu chứng cứ là giấy mượn tiền này. Như vậy có căn cứ xác định ông Dương Hoàng V còn nợ bà H số 150.000.000 đồng. Nay thời gian đã lâu mà ông V không thực hiện đúng cam kết như thỏa thuận với bà H là vi phạm nghĩa vụ của bên vay, gây thiệt thòi cho quyền lợi của bên cho vay. Căn cứ Điều 463, 466 Bộ luật dân sự 2015, yêu cầu khởi kiện của bà H là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2] Đối với tiền lãi, tại phiên tòa bà H không yêu cầu ông V trả tiền lãi, xét yêu cầu này là tự nguyện, phù hợp với qui định của pháp luật, có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[3] Lập luận của luật sư bảo vệ nguyên đơn là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhân định của Hội đồng xét xử.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo Điều 27 Nghị quyết 326 yêu cầu của bà H được chấp nhận nên ông V phải chịu phí dân sự sơ thẩm là 7.500.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 70, Điều 72, Điều 91, 93, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự 2015;

- Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thanh H.

Buộc ông Dương Hoàng V có nghĩa vụ trả cho bà Lê Thị Thanh H số tiền 150.000.000 đồng (Bằng chữ: Một trăm năm mươi triệu đồng). Thời gian thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày bà H có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông V chậm thực hiện theo nội dung quyết định này thì phải chịu tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Dương Hoàng V phải chịu 7.500.000 đồng.

- Hoàn lại cho bà Lê Thị Thanh H số tiền tạm ứng án phí đã nộp 4.050.000 đồng theo biên lai số 0013376 ngày 06/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho.

3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo trình tự phúc thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.


19
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 40/2019/DS-ST ngày 03/07/2019 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Số hiệu:40/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Mỹ Tho - Tiền Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:03/07/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về