Bản án 40/2019/HNGĐ-ST ngày 01/04/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 40/2019/HNGĐ-ST NGÀY 01/04/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 01 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 69/2019/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2019 về việc tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2019, giữa các đương sự:

Ngun đơn: Bà Nguyễn Lê Kim T, sinh năm 1991.

Đa chỉ: ấp LH, xã LG, huyện ĐH, tỉnh Long An.

Bị đơn: Ông Mai Văn Hoàng S, sinh năm 1983.

Đa chỉ: ấp 4, xã Mỹ Long, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Tạm trú: ấp LH, xã LG, huyện ĐH, tỉnh Long An.

(Bà T có mặt; ông S vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Ti Đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Nguyễn Lê Kim T trình bày:

Do quen biết và được gia đình đồng ý nên chị Nguyễn Lê Kim T với anh Mai Văn Hoàng S xác lập quan hệ vợ chồng, có tổ chức lễ cưới vào năm 2009; có đăng ký kết hôn tại UBND xã Lộc Giang, huyện Đức Hòa vào năm 2010. Sau khi cưới vợ chồng sống tại ấp LH, xã LG, huyện ĐH, tỉnh Long An đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn do anh Sơn ăn chơi, uống rượu và quan hệ ngoại tình; vợ chồng đã nhiều lần hàn gắn nhưng không thành nên chị Tuyền yêu cầu Tòa án cho ly hôn với anh Sơn.

Về con chung: Chị Tuyền với anh Sơn có 02 con chung tên Mai Tiến Phát, sinh ngày 20/3/2011 và Mai Cát Trinh, sinh ngày 21/12/2017. Hiện nay chị Tuyền đang nuôi dưỡng cháu Trinh; anh Sơn đang nuôi dưỡng cháu Phát. Sau khi ly hôn, chị Tuyền yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi cả hai con; chị Tuyền không yêu cầu anh Sơn cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có.

Bị đơn anh Mai Hoàng Sơn có ý kiên trình bày tại Bản tự khai ngày 06/3/2019 như sau:

Anh Mai Văn Hoàng S thống nhất với lời trình bày của chị Nguyễn Lê Kim T về quá trình xác lập quan hệ hôn nhân, thủ tục đăng ký kết hôn và đời sống chung vợ chồng; nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng thì không có nhưng chị Tuyền yêu cầu ly hôn thì anh Sơn không đồng ý.

Về nuôi con chung: Anh Sơn với chị Tuyền có 02 con chung tên Mai Tiến Phát, sinh ngày 20/3/2011 và Mai Cát Trinh, sinh ngày 21/12/2017. Trường hợp Tòa án chấp nhận cho anh Sơn và chị Tuyền ly hôn thì anh Sơn yêu cầu được nuôi cả hai con; không yêu cầu chị Tuyền cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Toà án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng bị đơn vắng mặt nên vụ án không hòa giải được và Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Ti phiên toà, nguyên đơn chị Tuyền vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh Sơn; yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Mai Cát Linh; đồng ý để anh Sơn tiếp tục nuôi cháu Mai Tiến Phát và không yêu cầu anh Sơn cấp dưỡng nuôi con; bị đơn anh Sơn vắng mặt và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Chị Nguyễn Lê Kim T khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Mai Văn Hoàng S. Căn cứ theo Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 55 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tố tụng là “tranh chấp ly hôn”, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An theo thủ tục sơ thẩm.

[2] Bị đơn anh Mai Văn Hoàng S vắng mặt tại phiên toà nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hợp lệ. Căn cứ theo Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông S.

[3] Theo Biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ thì các đương sự chỉ tranh chấp về tình cảm vợ chồng, con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; không tranh chấp về tài sản chung và thừa nhận không có nợ chung. Căn cứ khoản 1 Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chỉ xem xét đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và giải quyết hậu quả theo quy định pháp luật.

[4] Theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn và sự thừa nhận của các đương sự thì chị Tuyền và anh Sơn xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã Lộc Giang, huyện Đức Hòa vào ngày 29/12/2010 là quan hệ hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật bảo vệ.

[5] Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Tuyền với anh Sơn là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, thường xuyên gây gỗ, cải nhau nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay và không ai có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng; nhưng chị Tuyền yêu cầu ly hôn thì anh Sơn không đồng ý. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị Tuyền với anh Sơn đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Tuyền đối với anh Sơn.

[6] Theo Trích lục khai sinh số 141/TLKS-BS ngày 06/3/2019 và Giấy khai sinh số 01, quyển số 01/2012 ngày 04/01/2012 của UBND xã Lộc Giang, huyện Đức Hòa và sự thừa nhận của các đương sự thì chị Tuyền và anh Sơn có 02 con chung tên Mai Tiến Phát, sinh ngày 20/3/2011 và Mai Cát Trinh, sinh ngày 21/12/2017; hiện nay chị Tuyền đang nuôi dưỡng cháu Trinh; anh Sơn đang nuôi dưỡng cháu Phát. Sau khi ly hôn, chị Tuyền yêu cầu tiếp tục nuôi cháu Trinh; còn anh Sơn yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi cả hai con, nhưng xét thấy chị Tuyền và anh Sơn đều có việc làm, có thu nhập, có chỗ ở đủ điều kiện để nuôi con; từ khi vợ chồng ly thân nhau thì chị Tuyền nuôi dưỡng cháu Trinh; còn anh Sơn nuôi dưỡng cháu Phát và cháu Phát cũng không xác định được muốn sống chung với ai. Căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cần giao cháu Trinh cho chị Tuyền trực tiếp nuôi dưỡng và cháu Phát cho anh Sơn tiếp tục nuôi dưỡng cháu là phù hợp.

[7] Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị Tuyền và anh Sơn đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên sau khi ly hôn chị Tuyền và anh Sơn đều không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

[8] Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[9] Về nợ chung: Các đương sự trình bày không có nợ chung nên không xem xét.

[10] Về án phí: Chị Tuyền phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Căn cứ vào Điều 53, 56, 81, 82, 83, 84 và khoản 1 Điều 131 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tuyên xử;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Lê Kim T đối với anh Mai Văn Hoàng S.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Lê Kim T được ly hôn với anh Mai Văn Hoàng S.

Về nuôi con chung: Chị Tuyền với anh Sơn có hai con chung tên Mai Tiến Phát, sinh ngày 20/3/2011 và Mai Cát Trinh, sinh ngày 21/12/2017. Sau khi ly hôn, chị Tuyền được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trinh; anh Sơn được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phát.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị Tuyền và anh Sơn không cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Về án phí: Chị Nguyễn Lê Kim T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị Tuyền đã nộp theo Biên lai số 0004002 ngày 14 tháng 01 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa sang án phí.

Án xử sơ thẩm, đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.


28
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 40/2019/HNGĐ-ST ngày 01/04/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:40/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đức Hòa - Long An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 01/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về