Bản án 40/2019/HNGĐ-ST ngày 12/06/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 40/2019/HNGĐ-ST NGÀY 12/06/2019 VỀ LY HÔN

Trong ngày 12 tháng 6 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 494/2018/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2018, về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2019/QĐST-HNGĐ, ngày 14 tháng 4 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 130/2019/QĐST-HNGĐ, ngày 14/5/2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngọc P, sinh năm 1985;

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre, có mặt.

2. Bị đơn: Anh Võ Văn C, sinh năm 1983;

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn Nguyễn Ngọc P trình bày:

Chị Nguyễn Ngọc P và anh Võ Văn C tự nguyện kết hôn vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến đầu năm 2016 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do vợ chồng không hòa hợp, thường cự cãi nhau nên vợ chồng ly thân từ đầu năm 2016 đến nay không hàn gắn được.

Vợ chồng chị P và anh C không có con chung. Tài sản chung, nợ chung không có.

Do vợ chồng chị không còn tình cảm yêu thương nhau nữa nên chị P yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh C, chị không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Võ Văn C vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của anh đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc P.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Ngọc P và nội dung tranh chấp cần phải giải quyết, Tòa án xác định đây là vụ án Hôn nhân và Gia đình về việc: “ Ly hôn” được quy định tại các điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân.

Theo xác nhận đề ngày 29 tháng 10 năm 2018 của Công an xã T, huyện M thì bị đơn Võ Văn C hiện đang đăng ký thường trú và cư trú tại ấp T, xã T, huyện M nên căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam theo trình tự sơ thẩm.

Xét thấy bị đơn Võ Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử nhưng anh C vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh C là phù hợp.

[2] Về nội dung giải quyết:

Xem xét, giải quyết yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Ngọc P, Hội đồng xét xử xét thấy:

Chị Nguyễn Ngọc P và anh Võ Văn C tự nguyện kết hôn năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre nên hôn nhân của chị P và anh C là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận.

Sau khi kết hôn, chị P và anh C sống hạnh phúc đến đầu năm 2016 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn nên ly thân từ đó đến nay không hàn gắn được và chị P khởi kiện xin ly hôn, nguyên nhân theo chị P là do vợ chồng sống không hòa hợp, thường xuyên cải vã nhau, sống không có hạnh phúc.

Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị P và anh C đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và anh C cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị P nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị P là phù hợp. Các đương sự không có yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng nên không xem xét.

Về con chung: Không có nên không đề cập đến.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không xem xét.

[3] Về án phí: Chị Nguyễn Ngọc P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 24 và Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Ngọc P.

Chị Nguyễn Ngọc P được ly hôn với anh Võ Văn C. Các đương sự không có yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng.

Về con chung: Không có nên không đề cập đến..

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Ngọc P phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí mà chị P đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0021806, ngày 14 tháng 12 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam là đủ.

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có mặt có quyền làm đơn kháng cáo; bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.


46
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 40/2019/HNGĐ-ST ngày 12/06/2019 về ly hôn

Số hiệu:40/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mỏ Cày Nam - Bến Tre
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:12/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về