Bản án 40/2019/HNGĐ-ST ngày 16/07/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG

BẢN ÁN 40/2019/HNGĐ-ST NGÀY 16/07/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 16 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 93/2019/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2019/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Kim A, sinh năm 1991 (có mặt)

Trú tại: ấp A, xã P, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1988 (vắng mặt)

Trú tại: ấp P, thị trấn M, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và các lời khai của nguyên đơn chị Lê Thị Kim A trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn N chung tổ chức lễ cưới năm 2011, không đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu, nhưng thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn, do anh N không lo cho gia đình, có người phụ nữ khác bên ngoài, chị đã nhiều lần khuyên ngăn, nhưng không được. Vợ chồng đã ly thân khoảng 03 năm nay. Nay chị yêu cầu ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Ngân Q, sinh ngày 28/01/2013, hiện đang sống với chị A, chị A yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Bị đơn anh Nguyễn Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Về phần thủ tục từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự tố tụng. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, không công nhận chị A, anh N là vợ chồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Bị đơn anh Nguyễn Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn. 

[2] Chị Lê Thị Kim A và anh Nguyễn Văn N tổ chức lễ cưới vào năm 2011, nhưng không đăng ký kết hôn nên không được coi là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo lời khai của chị A thì thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn do anh N không lo cho gia đình, có người phụ nữ khác ở bên ngoài. Chị A và anh N đã ly thân khoảng 03 năm nay. Do không còn hạnh phúc nên chị A yêu cầu ly hôn. Anh N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không có ý kiến gì với cuộc hôn nhân của anh, điều đó cho thấy chị A và anh N mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị A yêu cầu ly hôn là có cơ sở để chấp nhận. Tuy nhiên, anh, chị không đăng ký kết hôn nên không được công nhận là vợ chồng.

[3] Về con chung: Quá trình sống chung chị A và anh N có một người con chung tên Nguyễn Ngân Q, sinh ngày 28/01/2013 hiện đang sống với chị A. Chị A yêu cầu được tiếp tục nuôi con. Hội đồng xét xử thấy rằng cháu Q sống chung với chị A từ lúc sinh đến nay, và cháu lại là nữ, cần có sự quan tâm chăm sóc của người mẹ nhiều hơn nên cần thiết phải giao cháu Q cho chị A nuôi dưỡng. Chị A không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên anh N chưa phải cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đặt ra giải quyết.

[5] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Lê Thị Kim A phải chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 51, Điều 53 và Điều 58 của Luật hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Lê Thị Kim A và anh Nguyễn Văn N là vợ chồng.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngân Q, sinh ngày 28/01/2013 cho chị Lê Thị Kim A trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu Q tròn 18 tuổi. Anh Nguyễn Văn N chưa phải cấp dưỡng nuôi con.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đặt ra giải quyết.

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Lê Thị Kim A phải chịu là 300.000 đồng, khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị A đã đóng theo biên lai số 0018119 ngày 12 tháng 4 năm 2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang thành án phí. Chị A đã đóng xong án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng, thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.


24
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 40/2019/HNGĐ-ST ngày 16/07/2019 về ly hôn

    Số hiệu:40/2019/HNGĐ-ST
    Cấp xét xử:Sơ thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Hậu Giang
    Lĩnh vực:Dân sự
    Ngày ban hành:16/07/2019
    Là nguồn của án lệ
      Bản án/Quyết định sơ thẩm
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về