Bản án 40/2019/HNGĐ-ST ngày 28/06/2019 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 40/2019/HNGĐ-ST NGÀY 28/06/2019 VỀ LY HÔN

Trong ngày 28 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 52/2018/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2018, về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị Kim P, sinh năm: 1971; Địa chỉ: 612 đường Đ, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng (có mặt).

Bị đơn: Ông A Cerrito Jr (hay còn gọi Cerrito Jr A), sinh năm: 1957; Địa chỉ: Mill Dr, Ca, Ge, 30114, Hoa Kỳ (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Đơn khởi kiện ngày 16/8/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà sơ thẩm hôm nay nguyên đơn bà Lê Thị Kim P trình bày:

Đầu năm 2013, bà có quen biết ông A Cerrito Jr qua sự giới thiệu của bạn bè.

Sau một thời gian tìm hiểu, yêu thương, bà và ông A Cerrito Jr tự nguyện đi đến hôn nhân. Ngày 25/6/2014 bà và ông A Cerrito Jr được Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng cấp Giấy chứng nhận kết hôn.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà của bà được nửa tháng thì ông A Cerrito Jr trở về nước để làm thủ tục bảo lãnh bà sang Mỹ mục đích vợ chồng đoàn tụ nhưng do hồ sơ bảo lãnh gặp một số khó khăn nên không đủ điều kiện xét duyệt. Khoảng thời gian này vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ, tín ngưỡng, phong tục, tập quán khiến việc giao tiếp của vợ chồng gặp khó khăn hơn nhiều. Bà đã cố gắng hòa giải dành nhiều thời gian cho nhau nhằm tạo dựng hạnh phúc gia đình nhưng không có kết quả. Mặt khác ông A Cerrito Jr muốn bảo lãnh bà sang Mỹ nhưng không được nên tình cảm vợ chồng ngày càng nhạt dần. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trầm trọng nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông A Cerrito Jr.

Bị đơn ông A Cerrito Jr đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng theo phương thức tống đạt, thông báo văn bản cho đương sự nước ngoài theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 474 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ngày 06/11/2018, Tòa án nhận được Đơn trình bày ý kiến của ông A Cerrito Jr với nội dung như sau: Ông đã nhận được Thông báo của quý Tòa nhưng do bận công việc và khoảng cách địa lý xa xôi, ông không thể có mặt tại Việt Nam để tiến hành thủ tục ly hôn tại Tòa án. Bằng chữ ký và đơn này, ông đồng ý vắng mặt trong quá trình giải quyết ly hôn và tuân theo mọi quy định của luật pháp Việt Nam.

QUYẾT ĐỊNH

Về tố tụng:

[1] Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn ông A Cerrito Jr theo đường dịch vụ bưu chính để tham gia phiên tòa. Tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án, Tòa án triệu tập hợp lệ ông A Cerrito Jr lần thứ hai tại phiên tòa nhưng ông A Cerrito Jr vẫn vắng mặt. Vì vậy, căn cứ điểm a khoản 5 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung:

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Kim P và ông A Cerrito Jr đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 25/6/2014. Việc kết hôn giữa bà Lê Thị Kim P và ông A Cerrito Jr là hoàn toàn tự nguyện và không trái với quy định của pháp luật. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thị Kim P và ông A Cerrito Jr được pháp luật công nhận là hợp pháp.

[3] Sau khi kết hôn, bà P và ông A Cerrito Jr chung sống được thời gian thì phát sinh mâu thuẩn. Theo bà P trình bày, nguyên nhân do ông A Cerrito Jr không làm được thủ tục bảo lãnh bà sang Mỹ để đoàn tụ, hơn nữa do có sự khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ, tín ngưỡng, phong tục, tập quán nên việc giao tiếp của vợ chồng gặp khó khăn, mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trong. Do đó bà P đề nghị Tòa án xem xét giải quyết cho bà được ly hôn với ông A Cerrito Jr.

[4] HĐXX xét thấy, thực tế bà P và ông A Cerrito Jr không chung sống với nhau đã nhiều năm, cả hai không có sự quan tâm, chia sẻ với nhau trong cuộc sống vợ chồng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà P đối với ông A Cerrito Jr.

[5] Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Thị Kim P xác định không có và ông A Cerrito Jr không có ý kiến phản hồi nên HĐXX không đề cập giải quyết.

[6] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà P phải chịu là 300.000đ theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014; Điều 147, điểm a khoản 5 Điều 477, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của bà Lê Thị Kim P đối với ông A Cerrito Jr.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Kim P được ly hôn với ông A Cerrito Jr.

2. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị Kim P phải chịu là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 001505 ngày 04/9/2018 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng. Bà P đã nộp đủ án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Bà Lê Thị Kim P được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, riêng ông A Cerrito Jr vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.


25
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 40/2019/HNGĐ-ST ngày 28/06/2019 về ly hôn

Số hiệu:40/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Đà Nẵng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 28/06/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về