Bản án 41/2018/HSPT ngày 05/02/2018 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 41/2018/HSPT NGÀY 05/02/2018 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 05 tháng 02 năm 2018 tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 462/2017/HSPT ngày 29/12/2017 đối với bị cáo Đậu Tuấn A về tội “Cố ý gây thương tích” do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 39/2017/HSST ngày 24 tháng 11 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin.

- Bị cáo có kháng cáo: Họ vàn tên: Đậu Tuấn A; sinh năm 1993 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Thôn 9, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 9/12; tôn giáo: Thiên Chúa giáo; con ông Đậu Đình A1, sinh năm 1958 và bà Hồ Thị H, sinh năm 1962; có vợ là Nguyễn Thị Huyền T, sinh năm 1998 và có 01 con sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 25/02/2016 bị Công an huyện Cư Kuin xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích; bị cáo tại ngoại – có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 21/7/2017, Mai Hùng M, Trần Văn T, Nguyễn Quốc V, Đậu Tuấn A và Nguyễn Xuân Đ đi đến nhà Lê Minh T tại thôn 12, xã E, huyện C uống rượu. Trong khi đang uống rượu M có mời Tuấn A ăn trứng vịt lộn nhưng Tuấn A từ chối, M nghĩ là Tuấn A khinh thường mình, vì vậy giữa M và Tuấn A xảy ra mâu thuẫn đòi đánh nhau thì được những người xung quanh can ngăn. 

M đi ra phía trước cổng nhà T lấy một cây gậy bằng cao su dài 60cm, đường kính 04cm (M đã để ở bờ rào nhà T trước đó) và ngồi tại đây. Một lát sau Tuấn A cũng đi ra ngoài để nói chuyện với M thì giữa M và Tuấn A tiếp tục xảy ra tranh cãi, M dùng gậy cao su đánh Tuấn A. Bị đánh, Tuấn A chạy vào khu vực bể nước bên hông nhà của T lấy một con dao dài khoảng 40cm, mũi dao cong chạy ra để chém M. Cùng lúc này bà Nguyễn Thị S (mẹ của T) đi chơi về nhà và đóng cổng lại, Tuấn A vừa chạy lại đến cổng thì M cũng chạy lại đứng phía ngoài dùng chân đạp vào cánh cổng, làm cánh cổng ngã đè lên người Tuấn A, M liền dùng gậy çao su đánh Tuấn A, Tuấn A vùng dậy được và dùng dao chém một nhát trúng vào trán và một nhát trúng vào tay trái của M, M dùng tay trái cầm cổ áo Tuấn A còn tay phải dùng gậy cao su đánh vào người Tuấn A, Tuấn A tiếp tục dùng dao chém một nhát trúng vào tay trái của M thì bị M dùng gậy cao su đánh Tuấn A rơi dao xuống sân. Ngay lúc đó có ông Đ, ông T vào can ngăn, Tuấn A bỏ chạy còn M được ông Đ và ông T đưa đi điều trị thương tích tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Đăk Lăk.

Bản kết luận Pháp y thương tích số 1067/PY-TgT ngày 31/8/2017 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận Mai Hùng M bị: “Đa thương, đứt cơ nhị đầu 20% tạm thời 12 tháng. Vật tác động: sắc bén”.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2017/HSST ngày 24/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin đã quyết định:

Áp dụng khoản 2 Điều 104; điểm b, đ, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999. Khoản 3 Điều 7; điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi bổ sung BLHS 2015); Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017.

Xử phạt bị cáo Đậu Tuấn A: 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.

Ngày 28/11/2017, bị cáo Đậu Tuấn A kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, và khẳng định bản án hình sự sơ thẩm số 39/2017/HSST ngày 24/11/2017 của TAND huyện Cư Kuin đã áp dụng khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 và điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 để xét xử bị cáo Đậu Tuấn A về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là thỏa đáng, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo không bào chữa tranh luận gì chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 28/11/2017, bị cáo làm đơn kháng cáo. Xét đơn kháng cáo của bị cáo là trong thời hạn luật định, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

Xét đơn kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự coi thường sức khỏe của người khác. Bị cáo đã dùng hung khí nguy hiểm chém vào vung đầu của người bị hại, gây thương tích 20%, khi bị M đánh bị cáo đã bỏ chạy, M không rượt đuổi, lẽ ra, bị cáo nên đi về nhà nhưng bị cáo lại tìm lấy dao để ra đánh nhau với M. Hội đồng xét xử sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả, xác định lỗi của người bị hại và áp dụng đúng, đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đồng thời, áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 1999 để áp dụng mức hình phạt cho bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là tương xứng với hành vi mà bị cáo gây nên. Vì vậy, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo là không có cơ sở chấp nhận.

Đối với kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo, hội đồng xét xử xét thấy: Ngày 25/02/2016 bị cáo bị Công an huyện Cư Kuin xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích nhưng bị cáo không rút kinh nghiệm cho bản thân nên việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết. Do đó, kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo là không có cơ sở chấp nhận.

[3] Về án phí HSPT: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đậu Tuấn A, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 39/2017/HSST ngày 24/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk.

Áp dụng khoản 2 Điều 104; điểm b, đ, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47 BLHS năm 1999. Khoản 3 Điều 7; điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS năm 2015 (Luật số 12 sửa đổi bổ sung BLHS 2015); Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017.

Xử phạt bị cáo Đậu Tuấn A: 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.

Về án phí HSPT: Bị cáo Đậu Tuấn A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


76
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về