Bản án 41/2019/DSST ngày 28/06/2019 về tranh chấp hợp đồng góp hụi

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY - TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 41/2019/DSST NGÀY 28/06/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG GÓP HỤI

Ngày 28 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự đã thụ lý số: 220/2018/TLDS-ST ngày 12/12/2018 về việc tranh chấp “Hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2019/QĐXX-ST ngày 28/5/2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị N, sinh năm 1981; (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện ủy quyền: Lê Văn D, sinh năm 1953; (có mặt)

Địa chỉ: phường N, Quận P, thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Nguyễn Phước N, sinh năm 1994; (vắng mặt)

Nguyễn Phước K, sinh năm 1964; (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: ấp M, xã N, thị xã P, tỉnh Tiền Giang.

Nguyễn Phước H, sinh năm 1986; (vắng mặt) Trần Thị C, sinh năm 1966; (có mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Bình Phước.

Đại diện ủy quyền của N, K, H: Trần Thị C, sinh năm 1966; (có mặt)

Địa chỉ: Thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Đại diện ủy quyền của nguyên đơn Lê Văn D trình bày: Năm 2014 đến năm 2016, Nguyễn Phước N, Nguyễn Phước K, Nguyễn Phước H và Trần Thị C cùng tổ chức góp hụi với nhiều dây hụi có rủ bà Nguyễn Thị N, bà N có tham gia dây hụi, hàng tháng Nguyễn Phước N, Nguyễn Phước K, Nguyễn Phước H và Trần Thị C đến nhận tiền góp hụi. Tổng số tiền bà N đã đưa cho Nguyễn Phước N, Nguyễn Phước K, Nguyễn Phước H và Trần Thị C là 182.000.000 đồng, cụ thể như sau: Hụi khui ngày 15/10/2014 âm lịch, hụi 20.000.000 đồng, hụi kết thúc ngày 02/6/2016 âm lịch, hụi gồm 24 phần, bà N tham gia một phần, đóng được 13 kỳ tổng cộng là 182.000.000 đồng;

Bà Nguyễn Thị N yêu cầu Nguyễn Phước N, Nguyễn Phước K, Nguyễn Phước H và Trần Thị C có trách nhiệm liên đới trả cho bà N số tiền 182.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 12/01/2017 tạm tính đến ngày khởi kiện 24.000.000 đồng, trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn Trần Thị C cũng là đại diện ủy quyền của các bị đơn Nguyễn Phước N, Nguyễn Phước K, Nguyễn Phước H trình bày:

Theo như đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị N thì tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tiền Giang bà C thừa nhận còn nợ tiền hụi tại biên bản đối chiếu nợ ngày 11/01/2017 nên bà C còn nợ bà Nguyễn Thị N số tiền 182.000.000 đồng (một trăm tám mươi hai triệu đồng).

Bà N yêu cầu trả số tiền 182.000.000 đồng và tiền lãi 24.000.000 đồng, trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật. Do hoàn cảnh kinh tế khó khăn bà C xin trả số tiền gốc 182.000.000 đồng, không đồng ý trả lãi. Tuy nhiên tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Tiền Giang, bà C đã trả được 10% trên số tiền 182.000.000 đồng, bà C yêu cầu trừ số tiền 10% mà bà N đã nhận tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tiền Giang.

Nguyễn Phước N, Nguyễn Phước K, Nguyễn Phước H theo nguyên đơn cho rằng là chủ thảo trong dây hụi và có gom tiền hụi của bà N là không đúng. Bà C cho rằng chỉ có một mình bà C là chủ thảo của dây hụi.

Tại phiên tòa: Đại diện ủy quyền của nguyên đơn thay đổi, bổ sung một phần yêu cầu khởi kiện, bà Nguyễn Thị N yêu cầu Nguyễn Phước N, Nguyễn Phước K, Nguyễn Phước H và Trần Thị C có trách nhiệm liên đới trả cho bà N số tiền 163.800.000 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 12/01/2017 tạm tính đến ngày 28/6/2019 là 29 tháng 15 ngày, lãi suất 0,833%/tháng thành tiền là 40.250.000 đồng, trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật;

Bà Trần Thị C xin trả số tiền gốc 163.800.000 đồng, đồng ý trả lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền là 40.250.000 đồng;

Đại diện ủy quyền của Nguyễn Phước N, Nguyễn Phước K, Nguyễn Phước H là bà Trần Thị C cho rằng chỉ có một mình bà C là chủ thảo của dây hụi nên Nguyễn Phước N, Nguyễn Phước K, Nguyễn Phước H không có trách nhiệm liên đới với bà C trong vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang phát biểu ý kiến trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân Sự. Về nội dung vụ án đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và bà C, ông K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

[1] Xét quan hệ pháp luật tranh chấp; Thẩm quyền giải quyết; Sự có mặt, vắng mặt của đương sự; Thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện; Thời hạn, thời hiệu, Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N thì vụ án thuộc quan hệ pháp luật tranh chấp “Hợp đồng góp hụi” được quy định tại Điều 479 Bộ luật Dân Sự năm 2005 và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án;

Xét trong quá trình thụ lý vụ án, hòa giải và chuẩn bị xét xử, nguyên đơn Nguyễn Thị N, bị đơn Nguyễn Phước K, Nguyễn Phước H, Nguyễn Phước N có văn bản ủy nên Hội đồng xét xử căn cứ các điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân Sự xét xử vắng mặt Nguyễn Thị N, Nguyễn Phước K, Nguyễn Phước H, Nguyễn Phước N;

Căn cứ vào đơn khởi kiện thì nguyên đơn là Trần Thị Ngọc, sau đó nguyên đơn có văn bản đề nghị điều chỉnh là Nguyễn Thị N và căn cứ vào chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, Tòa án thu thập thì nguyên đơn trong vụ án này là Nguyễn Thị N, do nguyên đơn sai sót trong việc đánh máy cho nên cần điều chỉnh cho phù hợp;

Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn thay đổi, bổ sung một phần yêu cầu khởi kiện, Hội đồng xét xử xét thấy việc thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi, bổ sung này;

Các đương sự không yêu cầu xem xét về thời hạn, thời hiệu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét;

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N về việc bà Trần Thị C, Nguyễn Phước H, Nguyễn Phước K, Nguyễn Phước N có nghĩa vụ liên đới trả số tiền hụi 163.800.000 đồng và tiền lãi 40.250.000 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Căn cứ vào lời trình bày và chứng cứ của bà Nguyễn Thị N thì từ năm 2014 đến năm 2016, Nguyễn Phước N, Nguyễn Phước K, Nguyễn Phước H và Trần Thị C cùng tổ chức góp hụi có rủ bà Nguyễn Thị N tham gia. Bà N tham gia một dây hụi, hàng tháng Nguyễn Phước N, Nguyễn Phước K, Nguyễn Phước H và Trần Thị C đến nhận tiền góp hụi. Tổng số tiền bà N đã đưa cho Nguyễn Phước N, Nguyễn Phước K, Nguyễn Phước H và Trần Thị C là 182.000.000 đồng, cụ thể như sau: Hụi khui ngày 15/10/2014 âm lịch, hụi 20.000.000 đồng, hụi kết thúc ngày 02/6/2016 âm lịch, hụi gồm 24 phần, bà N tham gia một phần, đóng được 13 kỳ tổng cộng là 182.000.000 đồng;

Căn cứ vào biên bản đối chiếu nợ ngày 11/01/2017 giữa bà Nguyễn Thị N và bà Trần Thị C tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Tiền Giang thì bà Trần Thị C là chủ hụi và còn nợ bà Nguyễn Thị N là 182.000.000 đồng;

Căn cứ vào chứng cứ do Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy thu thập tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Tiền Giang gồm biên bản ghi lời khai Đoàn Nguyễn Thị N ngày 10/12/2016, biên bản thỏa thuận ngày 08/02/2017 và biên bản về việc trả lại tài sản ngày 08/02/2017 thể hiện bà Trần Thị C là chủ hụi, có nợ bà Nguyễn Thị N số tiền 182.000.000 đồng và đã bà C đã trả được 18.200.000 đồng;

Tại phiên tòa, bà C thừa nhận còn nợ số tiền trên nhưng hoàn cảnh khó khăn xin trả nợ dần, phía đại diện nguyên đơn không đồng ý;

Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của bà Nguyễn Thị N có một phần cơ sở, bởi vì:

Từ năm 2014 đến năm 2016, bà Nguyễn Thị N có tham gia góp hụi với bà Trần Thị C, bà N tham gia 01 dây hụi, tổng số tiền mà bà N đã góp hụi cho bà C là 182.000.000 đồng. Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra, Công an tỉnh Tiền Giang thì bà C đã trả cho bà N 18.200.000 đồng nên còn nợ 163.800.000 đồng, bà C chưa trả số tiền trên cho bà N, bà N yêu cầu trả số tiền nợ hụi là có căn cứ;

Căn cứ vào biên bản đối chiếu nợ ngày 11/01/2017 giữa bà Nguyễn Thị N và bà Trần Thị C tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Tiền Giang, bà N yêu cầu tính lãi từ ngày 12/01/2017 đến ngày xét xử sơ thẩm là 29 tháng 15 ngày, lãi suất 0,8333%/tháng thành tiền là 40.250.000 đồng là có căn cứ;

Đại diện nguyên đơn yêu cầu Nguyễn Phước N, Nguyễn Phước K, Trần Thị C, Nguyễn Phước H có trách nhiệm liên đới trả số tiền hụi, tiền lãi phát sinh và đưa ra chứng cứ là các hụi viên thấy Nguyễn Phước N, Nguyễn Phước K, Nguyễn Phước H có chở bà Trần Thị C đi gom hụi. Tại phiên tòa, bà C không thừa nhận mà cho rằng bà là người trực tiếp đi gom hụi. Đối chiếu với các chứng cứ Tòa án thu thập tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tiền Giang và chứng cứ do nguyên đơn cung cấp thì xác định bà Trần Thị C là chủ thảo của các dây hụi trên. Do đó không có đủ căn cứ chứng minh Nguyễn Phước N, Nguyễn Phước K, Nguyễn Phước H là chủ thảo trong dây hụi nêu trên. Vì vậy không có đủ cơ sở để buộc Nguyễn Phước N, Nguyễn Phước K, Nguyễn Phước H cùng liên đới với bà Trần Thị C trả số tiền hụi và lãi theo yêu cầu của bà N;

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy ông Nguyễn Phước K cho rằng không biết bà C làm chủ thảo trong thời gian làm chủ thảo từ năm 2014 đến năm 2016 là không có căn cứ. Vì bà C đã làm chủ thảo, có thu lợi trong thời gian dài, trong khi đó bà C là lao động phổ thông, nghề nghiệp buôn bán và nội trợ trong gia đình. Bà C cũng thừa nhận số tiền thu lợi của bà từ việc làm chủ thảo bà có phụ giúp kinh tế gia đình. Ngoài ra xét về quan hệ nhân thân thì bà Trần Thị C và ông Nguyễn Phước K là vợ chồng thì phải có trách nhiệm liên đới trong nghĩa vụ trả nợ hụi và lãi phát sinh cho bà N;

Do đó yêu cầu của bà Nguyễn Thị N có một phần căn cứ nên chấp nhận một phần yêu cầu của bà Nguyễn Thị N về trách nhiệm liên đới.

Vì thế Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N cho nên cần buộc bà Trần Thị C, ông Nguyễn Phước K có trách nhiệm liên đới trả cho bà N số tiền nợ hụi là 163.800.000 đồng và tiền lãi phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền là 40.250.000 đồng.

[3] Xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị N về thời gian trả tiền, Hội đồng xét xử xét thấy: Yêu cầu này của bà Nguyễn Thị N là có cơ sở, bởi vì việc chậm trả nợ của bà C, ông K cho bà N là đã xâm phạm đến quyền lợi của bà N, kéo dài thời gian trả nợ;

Tại phiên tòa, bà C xin trả dần nhưng đại diện nguyên đơn không đồng ý;

Vì thế Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu về thời gian trả nợ của bà Nguyễn Thị N cho nên cần buộc bà Trần Thị C, ông Nguyễn Phước K có nghĩa vụ liên đới trả cho bà N số tiền nợ hụi là 163.800.000 đồng và tiền lãi phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền là 40.250.000 đồng, làm một lần khi án có hiệu lực pháp luật.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên hoàn lại án phí cho bà N theo quy định.

Bà Trần Thị C, ông Nguyễn Phước K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Bà C có đơn xác nhận hoàn cảnh kinh tế gia đình gặp khó khăn nên Hội đồng xét xử có xem xét giảm một phần án phí chi bà C.

Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 479 Bộ luật Dân Sự năm 2005 và Điều 357, khoản 2 Điều 468, Điều 688 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ các điều 92, 147, 220, 227, 228, 235, 244 Bộ luật Tố tụng Dân Sự; Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Luật thi hành án Dân Sự.

Xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N.

Buộc bà Trần Thị C, ông Nguyễn Phước K có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị N số tiền nợ hụi là 163.800.000 đồng (một trăm sáu mươi ba triệu, tám trăm ngàn đồng) và tiền lãi phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền là 40.250.000 đồng (bốn mươi triệu, hai trăm năm mươi ngàn đồng);

Thời gian thực hiện trả tiền làm một lần khi án có hiệu lực pháp luật;

Nếu bà Trần Thị C, ông Nguyễn Phước K chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì hàng tháng còn phải trả lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân Sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong.

2. Về án phí: Bà Trần Thị C, ông Nguyễn Phước K phải chịu 5.101.250 đồng (năm triệu, một trăm lẻ một ngàn, hai trăm năm mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Nguyễn Thị N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên hoàn lại cho bà N số tiền tạm ứng án phí đã nộp 5.150.000 đồng (năm triệu, một trăm năm mươi ngàn đồng) theo biên lai thu số 0001950 ngày 07/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự được quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thực hiện theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


41
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 41/2019/DSST ngày 28/06/2019 về tranh chấp hợp đồng góp hụi

Số hiệu:41/2019/DSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Cai Lậy - Tiền Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:28/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về