Bản án 41/2019/HNGĐ-ST ngày 22/10/2019 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 41/2019/HNGĐ-ST NGÀY 22/10/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 22/10/2019, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Ý Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 116/2019/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2019 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/10/2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Dương Huyền T, sinh năm 1974;

Địa chỉ: Thôn 4A, xã S, thành phố Đ, tỉnh Ninh Bình.

Bị đơn: Anh Vũ Ngọc T, sinh năm 1978;

Đa chỉ: Thôn P, xã P, huyên Y, tỉnh Nam Định.

Tại phiên tòa: Vắng mặt chị T, anh T (chị T xin vắng mặt, anh T vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

1. Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và tại các buổi làm việc tại Tòa án, nguyên đơn chị Dương Huyền T trình bày: Chị và anh Vũ Ngọc T tự nguyện kết hôn với nhau vào ngày 22/3/2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Y, tỉnh Nam Định. Sau kết hôn, vợ chồng chung sống không có hạnh phúc. Nguyên nhân giữa chị và anh T không có sự hoà hợp từ quan điểm sống cũng như tính cách nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Anh T hay nghi ngờ chị trong tất cả mọi vấn đề dẫn đến cuộc sống luôn căng thẳng, áp lực. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, không thể kéo dài thêm được nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vũ Ngọc T.

Về con chung: Chị T và anh T không có con chung.

Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác trong quan hệ hôn nhân: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng, giấy triệu tập anh T đến làm việc nhưng anh T vắng mặt không lý do.

Toà án nhân dân huyện Ý Yên đã về làm việc với chính quyền địa phương và gia đình anh Vũ Ngọc T. Tại biên bản làm việc ngày 20/8/2019, ông Vũ Ngọc N là bố đẻ anh Vũ Ngọc T cho biết: Anh Vũ Ngọc T và chị Dương Huyền T kết hôn với nhau ngày 22/3/2018. Trước khi kết hôn với nhau anh T đã có một đời vợ, chị T đã có một đời chồng. Sau khi kết hôn, anh, chị sống ở Đ, tỉnh Ninh Bình là chủ yếu nên anh, chị mâu thuẫn như thế nào gia đình ông không biết. Gia đình ông chỉ biết chị T gửi đơn xin ly hôn anh T. Tòa án đã gửi Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập và các văn bản tố tụng cho anh T, anh T đã nhận được các tài liệu này và có quan điểm tùy chị T đơn phương giải quyết ly hôn, anh T không đến Tòa án làm việc vì anh bận công việc. Anh T cũng không muốn gia đình ông can thiệp vào chuyện hôn nhân của anh, chị nên gia đình ông không có ý kiến, quan điểm gì. Việc anh chị ly hôn hay đoàn tụ, việc giải quyết như thế nào gia đình ông không liên quan, ông chỉ nhận các tài liệu, văn bản tố tụng Tòa án gửi cho anh T và cam đoan đã giao tận tay cho anh T. Về con chung, tài sản chung và các vấn đề khác trong quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị T không có gì liên quan.

Tòa án đã ra Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tại buổi làm việc chị T có mặt, anh T vắng mặt. Chị T có đơn đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải. Toà án đã thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh T theo quy định tại khoản 3 Điều 210 và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa: Chị T có đề nghị xin giải quyết vắng mặt. Anh T mặc dù được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà. Vụ án được xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại các Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chủ tọa phiên tòa công bố tóm tắt nội dung vụ án và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa có quan điểm:

1. Về thủ tục tố tụng:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng quy định của pháp luật.

- Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn không thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng.

2. Về nội dung:

Về tình cảm: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Dương Huyền T.

Về con chung: Chị T và anh T không có con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Các vấn đề khác có liên quan: Chị T và anh T không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Hi đồng xét xử thảo luận về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền của Toà án: Đây là vụ án tranh chấp “Ly hôn” do nguyên đơn chị Dương Huyền T thực hiện quyền khởi kiện. Bị đơn anh Vũ Ngọc T có nơi cư trú tại thôn P, xã P, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định nên căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.

Về việc vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án chị T có đề nghị xin xét xử vắng mặt, anh T mặc dù được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Huyền T và anh Vũ Ngọc T tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 22/3/2018 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Y, tỉnh Nam Định. Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp, tuân thủ đầy đủ quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, sau khi kết hôn anh chị chung sống nhưng không có hạnh phúc. Nguyên nhân là do vợ chồng anh, chị bất đồng quan điểm, hay xảy ra va chạm, cãi vã, hiện nay đang sống ly thân nhau. Chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên xin ly hôn với anh T. Về phía anh T, mặc dù biết việc chị T xin ly hôn, đã được Toà án triệu tập tham gia tố tụng, thông báo để hoà giải cho anh chị nhưng anh T vẫn vắng mặt, điều đó chứng tỏ anh không còn thiết tha hàn gắn tình cảm với chị T nữa. Xét thực tế, chị T, anh T đã sống ly thân nhau, hôn nhân giữa anh chị đã chấm dứt từ lâu. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị T kiên quyết xin ly hôn, Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải cho anh chị nhưng anh T không có mặt. Chị T đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải vụ án nên Tòa án không thể gắn kết hạnh phúc cho anh chị được. Xét thấy, anh chị đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không có, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận đơn của chị T, xử cho anh chị ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị T và anh T không có con chung.

Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác trong quan hệ hôn nhân: Chị T và anh T không đề nghị Tòa án giải quyết.

[3] Về án phí: Chị T phải nộp án phí ly hôn theo quy định của Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[4] Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Điều 271, 272 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ các Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Dương Huyền T và anh Vũ Ngọc T.

2. Về án phí sơ thẩm ly hôn: Chị Dương Huyền T phải nộp là 300.000 đồng, đối trừ tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2015/0001149, ngày 14/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ý Yên, chị T đã nộp đủ.

3. Về quyền kháng cáo của đương sự: Chị T và anh T được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi Hành án dân sự.


12
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 41/2019/HNGĐ-ST ngày 22/10/2019 về ly hôn

Số hiệu:41/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện ý Yên - Nam Định
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 22/10/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về