Bản án 41/2019/HS-ST ngày 05/09/2019 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM T, TỈNH BÌNH THUẬN

BẢN ÁN 41/2019/HS-ST NGÀY 05/09/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 05 tháng 9 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm T xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2019/TLST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2019/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Tuấn A, sinh năm: 1999, tại An Giang. Nơi ĐKHKTT: Phú H, Định M, Thoại S, An Giang. Chỗ ở hiện nay: Không cố định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Nghề nghiệp: Khôn; Trình độ học vấn: 05/12 Con ông Tô Văn B (không rõ năm sinh) và bà Nguyễn Thị Bích Ph, sinh năm 1980; Vợ, con: Chưa có Tiền án, tiền sự: Không Bị cáo bị bắt ngày 29/5/2019, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hàm T. (có mặt tại phiên tòa).

* Bị hại: Diệp Th, sinh năm 1979 (Có mặt).

Nơi cư trú: Thôn Láng Gòn 1, xã Tân X, huyện Hàm T, tỉnh Bình Thuận.

* Người làm chứng:

- Nguyễn Thị Thúy Tr, sinh năm 1988; Nơi cư trú: Thôn Đá M, xã Tân X, huyện Hàm T, tỉnh Bình Thuận. (Vắng mặt)

- Nguyễn Khắc L, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Thôn An V, xã Sông Ph, huyện Hàm T, tỉnh Bình Thuận. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ ngày 27/5/2019, bị cáo Nguyễn Tuấn A đi bộ vào trong chợ Tân X thuộc thôn Láng Gòn 1, Tân X, Hàm T để ăn. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, sau khi ăn xong A đi ra cổng chợ thì phát hiện xe mô tô biển số 86P1-0331 của anh Diệp Th, sinh 1979, trú tại thôn Láng Gòn 1, Tân X, Hàm T để tại đây và thấy không có người trông coi, chìa khóa còn để trên xe nên nảy sinh ý định lấy trộm làm phương tiện đi lại. Thực hiện ý định, bị cáo lén lút đi đến xe mô tô biển số 86P1-0331 lên xe rồi bật khóa nổ máy chạy thì chị Nguyễn Thị Thúy Tr, sinh 1988, trú tại thôn Đá Mài 2, Tân X, Hàm T có mặt tại đây phát hiện báo cho anh Th đuổi theo nhưng không kịp. Sau khi lấy được xe mô tô 86P1-0331, bị cáo điều khiển xe chạy đến quán cà phê ven đường tại thôn An V, Sông Ph thì gặp Nguyễn Khắc L, sinh 1992, trú tại thôn An V, Sông Ph, Hàm T cũng đang có trong quán. Tại đây, L hỏi mượn xe mô tô 86P1-0331 để đi về nhà thì bị cáo đồng ý, do đợi lâu không thấy L quay lại nên bị cáo đón xe về xã Tân X (nơi thường xuyên có mặt). Đến sáng ngày 29/5/2019, Cơ quan CSĐT Công an huyện Hàm T phát hiện L sử dụng xe mô tô 86P1-0331 nên mời L về làm việc, L khai chiếc xe trên là mượn của Nguyễn Tuấn A vào chiều ngày 27/5/2019. Ngay sau đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện Hàm T đã ra Lệnh bắt khẩn cấp đối với bị cáo Nguyễn Tuấn A. Tại cơ quan điều tra, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội Tại bản kết luận định giá tài sản số 24/KL-HĐĐGTS ngày 05/6/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hàm T xác định giá trị thiệt hại của xe mô tô 86P1-0331 bị chiếm đoạt ngày 27/5/2019 là 7.100.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 44/CT-VKS ngày 07/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm T truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Tuấn A như nội dung cáo trạng nêu và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng.

- Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tuấn A khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra và thừa nhận cáo trạng của VKSND huyện Hàm T truy tố là hoàn toàn đúng với các hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

- Bị cáo Nguyễn Tuấn A không có ý kiến cũng như tranh luận gì đối với quan điểm của đại diện VKSND huyện Hàm T.

* Bị cáo Nguyễn Tuấn A nói lời sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là sai, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố vụ án, Cơ quan điều tra Công an huyện Hàm T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm T, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, người làm chứng chị Nguyễn Thị Thúy Tr và anh Nguyễn Khắc L vắng mặt. Ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo có mặt tại phiên tòa là đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt người làm chứng không gây trở ngại cho việc xét xử, vì lời khai của họ đã khai đầy đủ thể hiện rõ trong hồ sơ vụ án, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án là phù hợp với quy định tại Điều 292 và Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về định tội và hình phạt: Tại Toà, bị cáo Nguyễn Tuấn A thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm T đã truy tố. Xét, lời khai của bị cáo tại Tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, nhân chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ căn cứ khẳng định: Khoảng 17 giờ ngày 27/5/2019, tại thôn Láng Gòn 1, Tân X, Hàm T, bị cáo Nguyễn Tuấn A đã lén lút trộm cắp xe mô tô 86P1-0331 của anh Diệp Th với giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 7.100.000 đồng.

Hành vi phạm tội của Nguyễn Tuấn A đủ yếu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự .

[2.2] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Mặc dù bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, bị nghiêm cấm, nhưng với bản tính tham lam, chây lười lao động, nên bị cáo đã lợi dụng sự mất cảnh giác trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, nhằm mục đích tư lợi cá nhân.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự xem thường pháp luật, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, tạo tâm lý mất an toàn trong quần chúng nhân dân. Do đó, để giữ gìn kỷ cương pháp luật, bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân, cần xử lý nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khởi đời sống xã hội một thời gian, để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

[2.3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

[2.4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay xét thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị hại đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

[2.5] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị hại anh Diệp Th đã nhận lại tài sản bị cáo chiếm đoạt và không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xét.

[4] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tuấn A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội: "Trộm cắp tài sản".

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tuấn A 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/5/2019 .

[2] Về án phí: Áp dụng: Khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Nguyễn Tuấn A phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[3] Về quyền kháng cáo: Áp dung Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (05/9/2019).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


14
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 41/2019/HS-ST ngày 05/09/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:41/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hàm Tân - Bình Thuận
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:05/09/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về