Bản án 41/2019/HSST ngày 17/07/2019 về tội giữ người trái pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUY TIÊN - HÀ NAM

BẢN ÁN 41/2019/HSST NGÀY 17/07/2019 VỀ TỘI GIỮ NGƯỜI TRÁI PHÁP LUẬT

Ngày 17 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2019/HSST ngày 07 tháng 6 năm 2019, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2019/QĐXX- HS ngày 05 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

+ Nguyễn Văn B, sinh năm 1989; Tên gọi khác: Th; Nơi cư trú: Thôn Đào Th, xã Canh T, huyện Hưng H, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn Ch và bà Đặng Thị Th; Vợ: Ngô Thị H (đã ly hôn); con: 01 con- SN 2010; Tiền án: Ngày 23/3/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Hưng H, tỉnh Thái Bình xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 18/9/2014 bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, ra trại ngày 01/02/2019; Tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ ngày 16/4/2019, chuyển tạm giam ngày 25/4/2019 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; (có mặt).

*Bị hại: chị Nguyễn Thị Ph, sinh năm 1994; Địa chỉ: Xóm 8, xã Đỉnh S, huyện Anh S, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt;

* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Trần Văn V, sinh năm 1988; Địa chỉ: Thôn Quyết Th, xã Tân H, huyện Tiên L, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt;

- Ông Nguyễn Văn Ch, sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn Đào Th, xã Canh T, huyện Hưng H, tỉnh Thái Bình; có mặt.

* Ngƣời làm chứng: Chị Võ Thị Ng, sinh năm 1997 (vắng mặt); chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 2000 (vắng mặt); chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1995 (vắng mặt); anh Trần Đại Ph, sinh năm 1980 (vắng mặt); anh Nguyễn Đức H, sinh năm 1978 (có mặt); chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1992 (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn B và anh Trần Văn V là quản lý, đưa đón nhân viên nữ phục vụ rót bia, bấm bài tại các quán hát trên địa bàn thị trấn Đồng V và các xã lân cận. Ngày 12/4/2019, chị Nguyễn Thị Ph liên hệ với anh Trần Văn V xin làm nhân viên phục vụ quán Karaoke, anh V đồng ý. Ngày 14/4/2019 anh V lên Hà Nội đón chị Ph về phòng trọ của B ở phố Nguyễn Hữu T, thị trấn Đồng V, huyện Duy T. Chị Ph ăn ở tại đây, khi có khách yêu cầu, B sẽ trực tiếp điều hành và chở chị Ph đi làm.

Khoảng 13 giờ ngày 16/4/2019 tại phòng trọ của Nguyễn Văn B, chị Ph cùng chị Nguyễn Thị Đ - SN 2000 ở thôn Nam Ph, xã Xuân Ph, huyện Yên D, tỉnh Bắc Giang, chị Nguyễn Thị H - SN 1995 ở khu 10, xã Ngô X, huyện Cẩm Kh, tỉnh Phú Thọ và chị Võ Thị Ng - SN 1997 ở xóm 3, xã Nghĩa A, huyện Nghĩa Đ, tỉnh Nghệ An đang ngồi chơi, lúc này B cũng có mặt ở đó thì chị Ph nhận được tin nhắn thông báo lịch phỏng vấn học tiếng đi xuất khẩu lao động. Chị Ph nói với B “Anh cho em về Hà Nội, em không làm nữa”, B trả lời “Ở đây không phải cái chợ, mày thích đến thì đến, thích đi thì đi”. Thấy vậy, chị H, chị Đ, chị Ng cùng khuyên chị Ph ở lại làm thêm vài hôm nữa nhưng chị Ph không đồng ý. B nói “Mày muốn đi thì đưa đây 3.000.000 đồng không thì cứ ngồi đấy”. Chị Ph hỏi đó là tiền gì thì B bảo đấy là tiền ăn, tiền ở và tiền công đi đón chị Ph về. Do chị Ph không có đủ tiền nên chị Ph xin B cho về Hà Nội rồi chuyển khoản trả sau nhưng B không đồng ý. Đến khoảng 13 giờ 30 phút, B nhận được điện thoại từ quán hát Tokyo yêu cầu chở nhân viên đến phục vụ, thấy vậy B bảo với Ph “Mày có đi làm không” thì chị Ph không đồng ý. Sau đó, B ra ngoài khóa cửa phòng lại rồi chở chị Đ, Ng, H đi làm. Do cửa phòng đã khóa nên chị Ph nhắn tin qua mạng Zalo cho anh Trần Đại P - SN 1980 ở ngõ 159, phố Hồng M, phường Quỳnh L, quận Hai Bà Tr, thành phố Hà Nội nhờ giúp. Sau đó anh P gọi điện cho Công an trình báo sự việc. Khoảng 20 phút sau B quay lại mở cửa phòng ra nói “Giờ mày vẫn muốn về đúng không”, Ph trả lời “Vâng, anh tha cho em về đi, về Hà Nội em chuyển tiền cho, bây giờ em không có 3.000.000 đồng ở đây”, B trả lời “Tao nói 3.000.000 đồng bao giờ, giờ mày đưa 1.000.000 đồng thì về không thì cứ ở đây làm thêm 01 tuần nữa”. Sau đó B đi ra ngoài khóa phòng lại. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, B chở chị Đ, H, Ng quay lại phòng. Lợi dụng lúc B không để ý, chị Ph chạy ra ngoài kêu cứu, cùng lúc này lực lượng Công an đến giải quyết vụ việc.

Về vật chứng, tài sản thu giữ: cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo 01 điện thoại Iphone 6 plus và 01 điện thoại Iphone 5s; quá trình điều tra cơ quan điều tra đã trả lại những tài sản này cho bố bị cáo là ông Nguyễn Văn Ch.

Về trách nhiệm dân sự: chị Ph không có yêu cầu bồi thường gì.

Cáo trạng số 40/CT-VKS ngày 07/6/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Tiên đã truy tố bị cáo về tội “Giữ người trái pháp luật” theo khoản 1 Điều 157 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 157; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/4/2019 và tuyên án phí đối với bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có tranh luận gì; Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt ngoài ra không tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Duy Tiên và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Tiên và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát và các chức danh tư pháp đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:

[2] Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 16/4/2019 tại phòng trọ của Nguyễn Văn B ở phố Nguyễn Hữu T, thị trấn Đồng V, huyện Duy T, chị Nguyễn Thị Ph là nhân viên phục vụ quán hát do B quản lý, xin phép B không làm việc nữa để về Hà Nội học tiếng đi xuất khẩu lao động, B không đồng ý nên đã giữ và nhốt chị Ph ở trong phòng trọ của B từ khoảng 13 giờ 30 phút đến 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi B mở cửa phòng, lợi dụng sơ hở, chị Ph đã chạy ra ngoài kêu cứu và được lực lượng Công an đến giải quyết.

[3] Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn B gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền tự do thân thể bất khả xâm phạm của công dân, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương đủ yếu tố cấu thành tội: “Giữ người trái pháp luật” tội phạm, hình phạt quy định tại khoản 1 điều 157 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: bị cáo có nhân thân xấu; Bị cáo đã tái phạm chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; có thân nhân có công với cách mạng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ nhận định trên xét thấy mặc dù nhiều lần bị kết án và chưa được xóa án tích nhưng bị cáo không coi đó là bài học mà vẫn dấn thân vào con đường phạm tội, hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật vì vậy cần phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự: người bị hại không yêu cầu nên không đăt ra giải quyết.

[5] Về tài sản thu giữ: cơ quan điều tra đã xử lý nên không đặt ra giải quyết.

[6] Về án phí: bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng khoản 1 điều 157; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B (tên gọi khác Th) phạm tội "Giữ người trái pháp luật".

Xử phạt: Nguyễn Văn B 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 16/4/2019.

2. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội: bị cáo Nguyễn Văn B phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Báo cho bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.


25
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 41/2019/HSST ngày 17/07/2019 về tội giữ người trái pháp luật

Số hiệu:41/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Duy Tiên - Hà Nam
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:17/07/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về