Bản án 41/2019/HSST ngày 30/05/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 41/2019/HSST NGÀY 30/05/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 30 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2019/HSST ngày 26 tháng 4 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2019/HSST-QĐ ngày 16 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

* Họ và tên: Bùi Văn Th, sinh năm 1978. Tên gọi khác: Không có. Giới tính: Nam;

- Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn M, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 9/12; con ông Bùi Văn T, sinh năm 1955(đã chết) và con bà Thân Thị X, sinh năm 1957; vợ là Lục Thị T1, sinh năm 1983 (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2006;

- Nhân thân: Năm 1998, bị cáo bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục 12 tháng theo Quyết định của chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang.

- Tiền án: Bản án số 49/2013/HSST ngày 14/3/2013 của Tòa án thành phố B xử phạt Bùi Văn Th 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 07/5/2015. Bị cáo chưa chấp hành tiền án phí và tiền phạt bổ sung.

- Tiền sự: Tháng 6 năm 2012 bị Công an phường Ng, thành phố B xử phạt vi phạm hành chính 750.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo chưa nộp phạt.

- Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/02/2019, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công tỉnh Bắc Giang, có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

1- Anh Vũ Văn B, sinh năm 1975 ( vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn TL, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang

2- Ông Trần Hữu Q, sinh năm 1955 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Khu 3, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hi 15 giờ ngày 13/02/2019, tại khu vực nghĩa trang thôn TB, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Công an huyện L bắt quả tang bị cáo Bùi Văn Th đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ:

- 07 gói giấy bạc trong đó có 03 gói đều có mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng và 04 gói đều có mặt ngoài màu trắng bạc, mặt trong màu trắng. Bên trong cả 07 gói đều đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma túy Heroin, thu giữ trong túi áo ngực bên trái Th đang mặc (QT1).

- 01 gói giấy màu trắng bên trong có một túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa và viền màu đỏ bên trong có 04 cục bột màu trắng nghi là ma túy Heroin, thu giữ bên trong tất Th đang đi ở chân trái (QT2).

- 01 gói giấy màu trắng bên trong có một túi nilon màu hồng đỏ một đầu có rãnh khóa nhựa, bên trong có 21 gói giấy bạc, trong đó có 11 gói có mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng và 10 gói có mặt ngoài màu trắng bạc, mặt trong màu trắng, bên trong cả 21 (hai mươi mốt) gói đều đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma túy Heroin, thu giữ bên trong tất Th đang đi ở chân phải (QT3).

- 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa và viền màu xanh bên trong đựng chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy tổng hợp dạng đá, thu giữ trong ví của Th (QT4).

- 01 điện thoại nhãn hiệu SamSung vỏ máy màu đen, máy cũ đã qua sử dụng có số Imei là 35526405458966/1 - 01 chiếc ví giả da màu đen.

- Số tiền 2.671.000 đồng được niêm phong trong 01 phong bì thư có ký hiệu “Tiền thu giữ trong vụ Bùi Văn Th”.

Vật chứng nghi là ma túy thu giữ khi bắt quả tang, Cơ quan điều tra đã niêm phong gửi giám định. Tại Kết luận giám định số 188/KL-KTHS ngày 18/02/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:

2.1.Trong phong bì có ký hiệu “QT1” đã được niêm phong gửi giám định:

- Chất cục bột màu trắng đựng trong 07 (bảy) gói giấy bạc (trong đó có 03 (ba) gói đều có mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng và 04 (bốn) gói đều có mặt ngoài màu trắng bạc, mặt trong màu trắng) đều là chất ma túy Heroin, có tổng khối lượng 0,326 gam.

2.2. Trong phong bì có ký hiệu “QT2” đã được niêm phong gửi giám định:

- Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ, được gói trong 01 (một) gói giấy màu trắng là chất ma túy Heroin, có khối lượng 1,711 gam.

2.3. Trong phong bì có ký hiệu “QT3” đã được niêm phong gửi giám định:

- Chất cục bột màu trắng đựng trong 21 (hai mươi mốt) gói giấy bạc trong đó có: 11 (mười một) gói đều có mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng và 10 (mười) gói đều có mặt ngoài màu trắng bạc, mặt trong màu trắng, được đựng trong 01 (một) túi nilon màu hồng một đầu có rãnh khóa nhựa. Tất cả được gói trong 01 (một) gói giấy màu trắng đều là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng 0,887 gam.

2.4. Trong phong bì có ký hiệu “QT4” đã được niêm phong gửi giám định:

- Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh không phải chất ma túy, có khối lượng 1,156 gam.” (BL 37-38).

Tại Cơ quan điều tra, Bùi Văn Th khai nhận: Bị cáo bị nghiện ma túy. Khoảng 09 giờ ngày 13/02/2019, bị cáo một mình bắt xe khách từ thị trấn K, huyện L xuống khu vực phía sau nhà hàng Rùa Vàng thuộc địa phận phường L, thành phố B mục đích mua ma túy về sử dụng. Th mua ma túy của một người phụ nữ không quen biết hết số tiền 1.500.000 đồng. Mua xong, bị cáo bắt xe về thị trấn K, đi vào khu vực Nghĩa trang thuộc thôn TB, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, lấy 02 cục ma túy Heroin vừa mua được chia nhỏ thành 28 gói, bị cáo cất 07 gói vào túi áo ngực, 21 gói để vào trong túi nilon màu hồng đỏ một đầu có rãnh khóa nhựa và gói bên ngoài bằng giấy màu trắng cất vào trong tất đang đi ở chân bên phải của bị cáo; còn 04 (bốn) cục ma túy Heroin chưa chia ở trong túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa và viền màu đỏ, bị cáo gói bên ngoài bằng giấy màu trắng và cất tất đang đi ở chân bên trái. Bị cáo đi ra quán nước cạnh cây tượng để ngồi uống nước được, khoảng 10 phút sau thì có Vũ Văn B, sinh năm 1975 ở thôn TL, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang đến ngồi uống nước cùng bàn với bị cáo cùng lúc này lực lượng Công an đã đến mời bị cáo và B về Trạm Công an Thị trấn K để làm việc. Tại đây đã phát hiện, thu giữ toàn bộ vật chứng nghi là ma túy bị cáo cất giấu trên người, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo.

Vật chứng đã chuyển theo hồ sơ vụ án để giải quyết.

Tại cơ quan điều tra Bùi Văn Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Bản cáo trạng số 44/CT-VKS ngày 26 tháng 4 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện L đã truy tố bị cáo Bùi Văn Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Bùi Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 , Điểm s khoản 1 Điều 51 Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106- Bộ luật tố tụng Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 30 tháng đến 36 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

Về vật chứng, đại diện VKS đề nghị:

- Tịch thu tiêu hủy: 04 phong bì thư được dán kín niêm phong bằng dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang, có chữ ký của những người liên quan bên trong chứa ma tuý hoàn lại sau giám định;

- Trả lại Bùi Văn Th: 01 điện thoại nhãn hiệu SamSung vỏ máy màu đen, máy cũ đã qua sử dụng có số Imei là 35526405458966/1; 01 chiếc ví giả da màu đen; Số tiền 2.671.000 đồng được niêm phong trong 01 phong bì thư có ký hiệu “Tiền thu giữ trong vụ Bùi Văn Th”, tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ số tiền để đảm bảo thi hành án.

Ngoài ra, đại diện VKSND huyện còn đề nghị về án phí, quyền kháng cáo của bị cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Bùi Văn Th tại phiên tòa đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng truy tố. Bị cáo nhận thức hành vi của mình đã thực hiện là sai trái, là vi phạm pháp luật và hứa cải tạo tốt, cai nghiện ma túy, sau khi chấp hành xong hình phạt tù không tái phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định quyết tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện L¸ Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng các quy định về thẩm quyền, trình tự tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, nên các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội, tội danh và khung hình phạt áp dụng: Lời khai của bị cáo Bùi Văn Th tại phiên tòa đã thừa nhận bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình, cụ thể: Hồi 15 giờ 00 phút ngày 13/02/2019, tại khu vực nghĩa trang thôn TB, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Công an huyện L bắt quả tang Bùi Văn Th đang có hành vi cất giữ trái phép trên người 2,924 gam ma túy Heroine, mục đích để sử dụng.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra cũng như vật chứng đã thu hồi, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với không gian, thời gian, địa điểm xảy ra hành vi phạm tội. Do đó, HĐXX đã có đầy đủ cơ sở để khẳng định Bùi Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Bản cáo trạng Viện Kiểm sát nhân dân huyện L truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

[3]. Nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Theo tài liệu có trong hồ sơ thể hiện: Về nhân thân: Năm 1998, bị cáo bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục 12 tháng theo Quyết định của chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang.

- Tiền sự: Tháng 6 năm 2012 bị Công an phường Ng, thành phố B xử phạt vi phạm hành chính 750.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo chưa nộp phạt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại bản án số 49/2013/HSST ngày 14/3/2013 của Tòa án thành phố B xử phạt Bùi Văn Th 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 07/5/2015. Bị cáo chưa chấp hành tiền án phí và tiền phạt bổ sung. Như vậy, xác định bị cáo Th có 01 tình tiết tăng nặng là tái phạm, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn Th có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Đánh giá về hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Văn Th, HĐXX xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bi cáo gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an của địa phương và sức khỏe của người khác, gây ảnh hưởng không tốt đến trật tự gia đình và xã hội và là nguyên nhân làm phát sinh 1 số tội phạm nguy hiểm khác, là con đường lây lan của một số căn bệnh xã hội. Đối với các tội phạm về ma túy, Nhà nước ta đã và đang có các chế tài rất nghiêm khắc được quy định trong luật để xử lý loại tội phạm này, nhưng các tội phạm về ma túy vẫn diễn biến phức tạp, khó lường. Vì vậy, HĐXX thấy cần phải xử lý nghiêm tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này. HĐXX thấy cần phạt bị cáo với mức cao ý kiến đề nghị của đại diện VKSND huyện tại phiên tòa cũng đã là khoan hồng đối với bị cáo.

Hiện nay, bị cáo đang bị tạm giam, để đảm bảo cho việc thi hành án, HĐXX thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo là phù hợp với Điều 329- BLTTHS.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh tại địa phương thấy: Bùi Văn Thanh là người nghiện ma túy, không có công ăn việc làm và không có thu nhập ổn định. Các nghĩa vụ phải thi hành án theo bản án, quyết định xác định về tiền án, tiền sự bị cáo cũng chưa thực hiện được, nên cần miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về nguồn gốc số ma túy thu giữ được, bị cáo Th khai mua của một người phụ nữ không quen biết tại khu vực nhà hàng Rùa Vàng, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ và xử lý.

Đi với Vũ Văn B, quá trình điều tra xác định B không biết bị cáo Th tàng trữ trái phép chất ma tuý nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.

Đi với chất tinh thể màu trắng đựng trong túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh thu giữ trong ví của Th theo Kết luận của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận “Không phải là chất ma túy”, Th khai, Th nhặt được và không biết là chất gì, mục đích Th cất vào ví nếu gặp ai thì cho nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là phù hợp.

[5]. Về xử lý Vật chứng:

- Đối với 04 phong bì thư được dán kín niêm phong bằng dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang, có chữ ký của giám định viên và những người liên quan bên trong chứa ma tuý hoàn lại sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, nên cần tịch thu tiêu hủy;

- Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu SamSung vỏ máy màu đen, máy cũ đã qua sử dụng có số Imei là 35526405458966/1; 01 chiếc ví giả da màu đen; Số tiền 2.671.000 đồng được niêm phong trong 01 phong bì thư có ký hiệu “Tiền thu giữ trong vụ Bùi Văn Th” không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại bị cáo. Tuy nhiên, cần tiếp tục tạm giữ số tiền để đảm bảo thi hành án dân sự;

[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự, các Điều 106, 135, 136, 293, 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Căn cứ Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Th phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn Th 03 (ba) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 13/02/2019. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 04 phong bì thư ký hiệu “QT1”, “QT2” “QT3” “QT4” được dán kín niêm phong bằng dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang, có chữ ký của giám định viên, bị cáo và những người liên quan bên trong chứa ma tuý hoàn lại sau giám định;

- Trả lại Bùi Văn Th: 01 điện thoại nhãn hiệu SamSung vỏ máy màu đen, máy cũ đã qua sử dụng có số Imei là 35526405458966/1; 01 chiếc ví giả da màu đen; Số tiền 2.671.000 đồng được niêm phong trong 01 phong bì thư có ký hiệu “Tiền thu giữ trong vụ Bùi Văn Th”, nhưng tiếp tục tạm giữ số tiền để đảm bảo thi hành án ( đặc điểm của vật chứng theo như Biên bản giao nhận vật chứng giữa CQĐT và Chi cục THADS huyện L).

3. Án phí: Bị cáo phải chịu số tiền 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo có mặt biết, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


11
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 41/2019/HSST ngày 30/05/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:41/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lục Ngạn - Bắc Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 30/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về