Bản án 42/2008/KDTM-PT ngày 22/02/2008 về việc tranh chấp kinh doanh thương mại

TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
BẢN ÁN 42/2008/KDTM-PT NGÀY 22/02/2008 VỀ VIỆC TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI

Ngày 22 tháng 02 năm 2006, tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 81/2007/TLPT-KT ngày 18 tháng 12 năm 2007 về việc tranh chấp kinh doanh thương mại.

Do bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 02/2007/KDTM-ST ngày 13-11-2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình bị kháng cáo;

Theo quyết định đưa vụ án ra xử số 122/2008/KDTM-QĐ ngày 22-01-2008 giữa các đương sự.

* Nguyên đơn: Công ty TNHH thiết bị Khu học xá;

Trụ sở: số 53B, phố Hàng Chuối, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Ông Võ Thiệu Huy, sinh năm 1956 – Giám đốc Công ty; trú tại: số nhà 3, ngõ 61/23 đường Trần Duy Hưng, quận Cầu Giấy, Hà Nội

* Bị đơn: Doanh nghiệp Thiết bị dạy học Trần Tuấn;

Trụ sở: Khu công nghiệp Đồng Tu, thị trấn Hưng Hà, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình;

Chủ doanh nghiệp: Ông Trần Văn Tuấn, sinh năm 1958;

Người đại diện theo ủy quyền:

1. Ông Bùi Duy Nhất, sinh năm 1977 – trú tại: khu Nhân Cầu I, thị trấn Hưng Hà, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

2. Ông Trần Anh Toàn, sinh năm 1953; trú tại: tổ 53, phường Đồng Tâm, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.

NHẬN THẤY

Công ty TNHH thiết bị giáo dục Khu học xá (sau đây gọi là Công ty Khu học xá) trình bày: giữa Công ty và doanh nghiệp thiết bị dạy học Trần Tuấn (sau đây gọi là doanh nghiệp Trần Tuấn) có thỏa thuận miệng về việc mua bán thiết bị dạy học môn vật lý lớp 9. Phương thức thanh toán khi giao hàng là: giá bán hàng lấy giá của Bộ Tài chính chiết khấu 35%, khi thanh toán phải xuất hóa đơn GTGT. Từ ngày 14-8-2005 đến ngày 18-11-2005 Công ty đã xuất hàng và giao trực tiếp cho Doanh nghiệp Trần Tuấn 15 lần với tổng giá trị tiền hàng theo bảng thanh toán ngày 01-4-2006 là 3.732.142.993 đồng (trong đó tỷ lệ chiết khấu 35% là 1.862.694.920 đồng, tỷ lệ chiết khấu 45% là 1.869.448.073 đồng).

Ngày 20-12-2005, theo yêu cầu của doanh nghiệp Trần Tuấn, Công ty Khu học xá đã xuất hóa đơn GTGT có số tiền thanh toán là 2.003.597.064 đồng. Khi thanh toán hết hóa đơn này thì sẽ xuất tiếp hóa đơn GTGT cho số hàng còn lại.

Từ ngày 29-11-2005 đến ngày 01-4-2006 Doanh nghiệp Trần Tuấn đã thanh toán 5 đợt với số tiền là 1.800.000.000 đồng, trong đó trả nợ 200 triệu vay ngày 27-7-2005, thanh toán tiền hàng là 1.600.000.000 đồng. Ngày 01-4-2006 doanh nghiệp Trần Tuấn lập bảng thanh toán hẹn đến ngày 15-5-2006 sẽ thanh toán số tiền 400.000.000 đồng. Số tiền hàng tồn còn lại là 1.732.142.000 đồng sẽ thống nhất bằng văn bản khác giữa hai bên. Ông Tuấn còn hẹn lần cuối vào ngày 26-5-2006 sẽ thanh toán số tiền theo văn bản ngày 01-4-2006 và có kế hoạch tiếp đối với số tiền hàng tồn còn lại. Song, do doanh nghiệp Trần Tuấn không thực hiện đúng cam kết nên Công ty Khu học xá đã khởi kiện Doanh nghiệp Trần Tuấn tại Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, ngày 23-01-2007 hai bên thỏa thuận: số tiền 400.000.000 đồng theo hóa đơn GTGT sẽ thanh toán vào ngày 07-02-2007 là 200.000.000 đồng, và ngày 20-3-2007 là 200.000.000 đồng. Số hàng còn lại trị giá là 972.767.450 đồng, số hàng còn lại của Công ty Khu học xá có trị giá là 759.372.550 đồng, ông Huy hỗ trợ doanh nghiệp Trần Tuấn 100.000.000 đồng, số tiền còn lại sẽ được giải quyết theo thiện chí của hai bên sau ngày 15-8-2007 và ông Huy phải cam kết rút đơn khởi kiện. Ông Huy đã rút đơn khởi kiện. Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà ra quyết định đình chỉ và giao Quyết định này cho ông Huy vào ngày 09-5-2007. Ông Huy kháng cáo với lý do: ngày 30-4-2007 theo cam kết là phải trả 324.255.816 đồng nhưng doanh nghiệp Trần Tuấn không trả mà yêu cầu tính 100.000.000 đồng hỗ trợ của đợt hai vào lần trả ngày 30-4-2007 và thống kê lại số hàng đã bán năm 2005, không đồng ý thì doanh nghiệp Trần Tuấn không trả tiền. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, giao hồ sơ cho Tòa kinh tế Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình giải quyết theo thẩm quyền.

Công ty Khu học xá yêu cầu doanh nghiệp Trần Tuấn trả số tiền mua hàng là 1.732.140.000 đồng và lãi 0,83%/tháng tính từ tháng 5/2006 là 17 tháng, là 205.000.000 đồng. 400.000.000 đồng quá hạn lãi 1,2% x 7 tháng = 33.600.000 đồng.

Bị đơn-doanh nghiệp Trần Tuấn trình bày: Tháng 7-2005 Công ty Khu học xá có đặt vấn đề ký kết hợp đồng Kinh doanh thương mại với hình thức đại lý hàng hóa thiết bị dạy học môn vật lý lớp 9 phần quang học. Ông Tuấn đề nghị ký kết bằng văn bản nhưng ông Huy nói với doanh nghiệp cứ yên tâm sẽ thực hiện đúng yêu cầu của Doanh nghiệp, hai bên dự kiến 1000 bộ thiết bị vật lý lớp 9 phần quang học. Mặc dù thỏa thuận miệng nhưng doanh nghiệp yêu cầu phải đảm bảo thực hiện hợp đồng đúng tiến độ, đồng bộ, đúng mẫu của Bộ Giáo dục. Khi thanh toán phải xuất hóa đơn GTGT. Giá theo quyết định số 2076 ngày 21-6-2005 của Bộ Tài chính tỷ lệ chiết khấu thỏa thuận 35%, bán được hàng đến đâu thanh toán đến đó. Trong quá trình thực hiện hợp đồng Công ty Khu học xá vi phạm tiến độ: ngày giao hàng đầu tiên là 04-8-2005 nhưng đến ngày 14-8-2005 mới giao hàng, giao hàng không đồng bộ như hóa đơn ngày 19-10-2005. Giao hàng không đảm bảo chất lượng như không thông báo của Sở giáo dục tỉnh Thanh Hóa, đã phải đổi lại 198 bộ kính lọc màu. Ngày 08-9-2005 Doanh nghiệp đã gửi Fax dừng việc giao hàng nhưng Công ty Khu học xá vẫn chuyển hàng về kho của Doanh nghiệp.

Về thanh toán, tỷ lệ chiết khấu là 35% doanh số bán hàng. Nếu số hàng tồn không bán được sẽ trả lại cho Công ty Khu học xá, do đó ông Huy đề nghị hàng tồn sẽ chiết khấu thêm 10% nữa là 45% nhưng doanh nghiệp chưa nhận mua lại. Doanh nghiệp đã thanh toán 1.884.500.000 đồng, trong đó có 200.000.000 đồng tiền vay, 84.500.000 đồng đã trả nhưng không có chứng từ. Về số tiền 1.732.142.000 đồng hàng tồn theo đề nghị của Công ty Khu học xá là không đúng thỏa thuận. Ông Tuấn cho rằng đầy là hợp đồng đại lý, đề nghị thực hiện theo biên bản thỏa thuận ngày 23-1-2007. Số hàng tồn Công ty Khu học xá phải nhận lại và thanh toán chi phí lưu kho theo quy định của hải quan. Doanh nghiệp không mua nữa.

Tại bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 02-2007-KDTM-ST ngày 13-11-2007, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình đã áp dụng các Điều 12, 13, 24, 50, 166, 170 Luật Thương mại, Điều 29, 131 Bộ luật tố tụng dân sự quyết định:

1. Chấp nhận yêu cầu của Công ty TNHH Thiết bị giáo dục Khu học xá.

- Buộc Doanh nghiệp thiết bị dạy học Trần Tuấn phải thanh toán số tiền mua hàng theo thỏa thuận là 972.767.450 đồng cho Công ty TNHH thiết bị giáo dục Khu học xá.

- Số hàng còn lại của Công ty TNHH thiết bị giáo dục Khu học xá (sau khi đã hỗ trợ 100.000.000 đồng) trị giá 659.732.550 đồng tại Doanh nghiệp Trần Tuấn hai bên có thỏa thuận giải quyết theo thiện chí của mình. Nếu không thỏa thuận được thì Công ty TNHH thiết bị giáo dục Khu học xá có quyền nhận lại, nếu không còn hàng để giao thì Doanh nghiệp Trần Tuấn phải trả bằng tiền là 659.732.550 đồng.

- Bác yêu cầu trả lãi, trả phí lưu kho của hai bên.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 26-11-2007 Công ty TNHH thiết bị giáo dục Khu học xá kháng cáo với nội dung: không đồng ý với bản án sơ thẩm số 02-2007/KDTM-ST ngày 13-11-2007 tại hai phần:

-Việc thanh toán số tiền 659.732.550 đồng.

- Việc tính lãi số tiền 400.000.000 đồng

Ngày 26-11-2007 doanh nghiệp thiết bị dạy học Trần Tuấn kháng cáo với nội dung: không đồng ý với bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Công ty TNHH thiết bị Khu học xá yêu cầu doanh nghiệp thiết bị dạy học Trần Tuấn phải thanh toán toàn bộ số tiền đã mua hàng là 1.732.400.000 đồng và lãi suất, lãi suất của số tiền 400.000.000 đồng là 33.600.000 đồng.

Doanh nghiệp thiết bị dạy học Trần Tuấn chỉ chấp nhận mua lại số hàng tồn trị giá 65.250.180 đồng theo đúng biên bản thỏa thuận ngày 23-01-2007, vì số hàng còn lại không đồng bộ, không đúng mẫu của Bộ Giáo dục, yêu cầu Công ty TNHH thiết bị khu học xá trả tiền phí lưu kho là 74.560.000 đồng và xin miễn án phí.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, lời trình bày, tranh luận của các đương sự. Xét kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn, Hội đồng xét xử

XÉT THẤY

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, cụ thể như:

Tòa án cấp sơ thẩm buộc các bên thực hiện theo biên bản thỏa thuận ngày 23-01-2007, trong biên bản thể hiện tại mục II: “Số hàng còn lại với trị giá là 1.732.140.000 đồng… Doanh nghiệp Trần Tuấn nhất trí mua lại số hàng có giá trị là 972.767.450 đồng cho Công ty Khu học xá, Doanh nghiệp sẽ trả tiền làm 3 đợt vào ngày 30-4-2007, 30-6-2007, 15-8-2007 mỗi đợt trả 324.255.186 đồng và số hàng trên phải đảm bảo đúng mẫu của Bộ Giáo dục đào tạo và phải đồng bộ”. Về nội dung này, Công ty TNHH thiết bị Khu học xá cho rằng bán hàng theo yêu cầu của bên mua là Doanh nghiệp thiết bị dạy học Trần Tuấn cho nên toàn bộ số hàng trên là đồng bộ và đúng mẫu. Còn Doanh nghiệp Trần Tuấn xác định số hàng trị giá 65.250.186 đồng là đồng bộ và đúng mẫu, nên doanh nghiệp Trần Tuấn chỉ chấp nhận mua lại số hàng này theo đúng thỏa thuận ngày 23-01-2007.

Trong trường hợp này Tòa án phải thu thập chứng cứ từ cơ quan có thẩm quyền để giám định về số lượng, chất lượng hàng đúng mẫu và đồng bộ để giải quyết vụ án cho đúng pháp luật. Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm cũng không yêu cầu hai bên chứng minh và không thu thập chứng cứ kết luận của cơ quan chuyên môn mà đã buộc Doanh nghiệp thiết bị dạy học Trần Tuấn phải thanh toán số tiền 972.767.450 đồng là chưa đủ căn cứ.

Đối với số hàng còn lại của Công ty TNHH thiết bị giáo dục Khu học xá có trị giá là 659.372.550 đồng (sau khi đối trừ 100 triệu tiền hỗ trợ cho doanh nghiệp) số hàng còn lại trị giá là 659.372.550 đồng sẽ được giải quyết theo thiện chí của hai bên sau ngày 15-8-2007. Tòa án cấp sơ thẩm cũng chưa thu thập chứng cứ về việc giải quyết của hai bên, nhưng lại quyết định nếu không thỏa thuận được thì Công ty TNHH thiết bị giáo dục Khu học xá có quyền nhận lại, nếu không còn hàng để giao thì Doanh nghiệp Trần Tuấn phải trả bằng tiền 659.732.550 đồng. Như vậy Tòa án cấp sơ thẩm đã không xem xét thẩm định tại chỗ xem hàng còn trong kho? Còn là bao nhiêu? Hay đã hết mà đã đưa ra phán quyết theo tình huống giả định như vậy là giải quyết không triệt để vụ án, không thể thi hành án được.

- Nguyên đơn yêu cầu tính lãi của số tiền 1.732.140.000 đồng và số tiền 400 triệu đồng nhưng không thu thập các quyết định công bố mức lãi suất nợ quá hạn của các Ngân hàng chính đang hoạt động trên địa bàn xảy ra tranh chấp để tính và áp dụng chính xác mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán theo quy định tại Điều 306 Luật Thương mại.

- Bị đơn yêu cầu nguyên đơn phải thanh toán tiền lưu kho là 74.560.000 đồng. Nhưng không yêu cầu nộp tiền tạm ứng án phí là vi phạm Điều 176, 178 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Bác yêu cầu tính lãi của nguyên đơn, tính tiền lưu kho của bị đơn nhưng không buộc các bên phải chịu án phí là vi phạm khoản 1 Điều 17 Nghị định 70/CP ngày 12-6-1997 của Chính phủ về án phí, lệ phí Tòa án và Điều 131 Bộ luật tố tụng dân sự.

Với những vi phạm như trên, Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục mà hủy bản án sơ thẩm để Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự.

Về án phí: các đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm. Tiền tạm ứng án phí sơ thẩm sẽ được Tòa án cấp sơ thẩm quyết định khi giải quyết lại vụ án.

Vì các lẽ trên.

Căn cứ vào khoản 3 Điều 275; khoản 1 Điều 277 của Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH

1. Hủy bản án sơ thẩm số 02/2007/KDTM-ST ngày 13/11/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.

2. Về án phí: Hoàn trả ông Võ Thiệu Huy 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu số 006771 ngày 26-11-2007 của cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình.

Hoàn trả ông Trần Văn Tuấn 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu số 006768 ngày 26-11-2007 của cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


197
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 42/2008/KDTM-PT ngày 22/02/2008 về việc tranh chấp kinh doanh thương mại

Số hiệu:42/2008/KDTM-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành:22/02/2008
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về