Bản án 42/2018/HSPT ngày 13/04/2018 về tội đánh bạc 

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 42/2018/HSPT NGÀY 13/04/2018 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Trong ngày 13/4/2018 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở phiêntòa công khai xét xử phúc thẩm vụ  án hình sự thụ lý số 215/2017/HSPT ngày21/11/2017 đối với bị cáo Lý Thị  T do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 38/2017/HSST ngày 11/10/2017 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

* Bị cáo có kháng cáo: Họ và tên: Lý Thị T, tên gọi khác: không có; sinh năm 1979 tại xã V, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; nơi ĐKHKT và chỗ ở: xóm P, xã V, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; ng đánh bạchề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Nùng; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Văn T và bà Vy Thị L ; có chồng: Cổ Trung K và có 03 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2012; tiền án: không có; tiền sự: không có; nhân thân: Ngày 09-12- 2015 có hành vi đánh bạc, tại bản án số 12/2016/HSST ngày 15-4-2016, Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Giang xét xử miễn truy cứu trách nhiệm hình sự (dotổng số tiền các đối tượng sử dụng đánh bạc dưới 5.000.000 đồng); bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09-6-2017 đến ngày 15-6-2017 được áp dụng biện pháp Cấm đi  khỏi nơi cư trú. (có mặt)

* Người tham gia tố tụng khác: Ngoài ra vụ án còn có 10 bị cáo khác nhưng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản cáo trạng số 34/KSĐT ngày 31/8/2017 của VKSND huyện Y và bản án hình sự sơ thẩm số 38/2017/HSST ngày 11/10/2017 của TAND huyện Y thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 18 giờ 30 phút ngày 08-6-2017, tại thôn G, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, tổ công tác Công an huyện Y phát hiện và bắt quả tang vụ đánh bạc bằng hình thức đánh xóc đĩa được thua bằng tiền tại đường khai thác đồi cây bạch đàn. Các đối tượng bị bắt gồm: Nguyễn Văn C, sinh năm 1973 ở thôn G, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Lý Thị T, sinh năm 1979; Vi Văn T, sinh năm 1968 ở xóm P, xã V, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; Nguyễn Danh L, sinh năm 1972 ở thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Hoàng Thị L, sinh năm 1982 ở xóm G, xã T, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; Chu Thị Â, sinh năm 1986 ở xóm L 1, xã T, huyện H, tỉnh Lạng Sơn(Â không đánh bạc). Các đối tượng bỏ chạy thoát gồm: Tô Văn Q, sinh năm 1985 ở thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Lý Văn D, sinh năm 1980 ở xóm S, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Lục Văn D, sinh năm 1987 ở xóm V, xã Đ, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; Lê Đăng B, sinh năm 1980 ở xóm L, xã Đ, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; Phạm Văn T, sinh năm 1962 ở xóm H, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; Quách Thị V, sinh năm 1977 ở xóm P, xã V, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.

Vật chứng thu giữ gồm: Tiền thu tại chiếu bạc là 8.400.000đồng; 01 vỏ bao tơ rứa màu hồng; 03 bát con sứ; 03 đĩa sứ; 04 quân vị; 01 bảng vị; 02 mảnh giấy vở học sinh; 01 bút dạ mực màu đen; 01 con dao cạo râu; 01 con dao bài; 01 túi xách bằng vải; 02 ví da; 08 xe mô tô các loại; 05 điện thoại di động các loại; 10 chiếc dép các loại; tiền khám thu trong người Nguyễn Danh L 4.500.000 đồng; thu giữ trong ví của Lý Thị T 328.000 đồng; thu giữ của Chu Thị Â 1.320.000 đồng; thu trong người Nguyễn Văn C số tiền 76.000 đồng; thu giữ của Vi Văn T 60.000 đồng. Tổng số là 6.284.000 đồng.

Trong các ngày 09-6-2017, 12-6-2017, 15-6-2017 và 20-6-2017 lần lượt Lý Văn D, Tô Văn Q, Lục Văn D và Lê Đăng B đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đầu thú khai nhận hành vi phạm tội đánh bạc của mình cùng đồng phạm. Khi đầu thú, Lý Văn D giao nộp 01 điện thoại di động, Lục Văn D đã giao nộp số tiền 50.000 đồng.

Ngày 04-7-2017 và ngày 26-7-2017, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y triệu tập và làm việc với Phạm Văn T và Quách Thị V; T và V đã khai nhận hành vi đánh bạc của mình cùng đồng phạm vào ngày 08-6-2017.

Quá trình điều tra xác định được: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 08-6-2017, Lục Văn D điều khiển xe mô tô kèm Tô Văn Q ra thị trấn B, huyện Y ăn cơm, đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày thì Lý Thị T gọi điện thoại cho Q hỏi "Hôm nay chơi ở đâu", Q hiểu ý T hỏi đánh bạc ở đâu nên Q nói "vẫn ở chỗ hôm qua" rồi Q gọi điện thoại cho Lý Văn D và bảo D vào “đập Bò Đái” xem đường. Sau đó, D đi xe mô tô vào khu vực chân đồi cây bạch đàn thuộc thôn G, xã Đ, huyện Y để xem đường còn Q tiếp tục gọi điện thoại rủ Nguyễn Văn C đi đánh bạc thì C đồng ý. Trên đường đi, Q về nhà lấy 01 túi nilon bên trong có 03 bát con sứ, 03 đĩa sứ, 01 mảnh tre, 01 con dao bài, 01 bút dạ mực màu đen, 01 con dao dao lam cầm mang theo để làm công cụ cho các đối tượng đánh bạc. Q nhặt ở rìa đường và đem theo 01 vỏ bao tơ rứa màu hồng. Lúc này, Phạm Văn T đi xe mô tô kèm Quách Thị V đivào gặp D đã đến chỗ D ở  chân đồi đỗ xe lại. Q cầm túi nilon và vỏ bao tơ rứa mang theo cùng T, V, T, T, B, D, L, Â đi bộ theo đường khai thác lên đồi cây bạch đàn. Các đối tượng đi đến vị trí bằng phẳng cách chỗ để xe mô tô khoảng 300 mét thì dừng lại. Tại đây, Q lấy con dao bài cắt vỏ bao tơ rứa ra trải xuống nền đất, lấy 01 bát con sứ, 01 đĩa sứ bỏ ra vỏ bao tơ rứa, dùng dao bài chẻ mảnh tre để làm 04 quân vị, dùng bút dạ mực đen mang theo bôi đen một mặt của 04 quân vị để làm công cụ, phương tiện cho các đối tượng đánh bạc. Lý Thị T lấy ra 01 bảng vị được làm từ bìa quyển vở học sinh do T mang theo. Sau đó T, T, L, B, D, T, V ngồi quây xung quanh vỏ bao tơ rứa và dùng bát, đĩa, quân vị mà Q đã chuẩn bị để đánh bạc với nhau bằng hình thức xóc đĩa sát phạt nhau được thua bằng tiền. B là người xóc cái, Lý Thị T cầm bảng vị.

Cách thức các đối tượng đánh bạc là: Cửa chẵn ở bên phía tay phải của người xóc cái, cửa lẻ ở bên phía tay trái của người xóc cái, trong 01 đến 02 ván bạc đầu tiên có đối tượng đặt tiền để tham gia đánh bạc thấp nhất là 10.000 đồng/ván, cao nhất không quy định, sau đó thấp nhất là 50.000 đồng/ván, cao nhất không quy định. Trong mỗi ván bạc người xóc cái cho 04 quân vị vào lòng đĩa sứ, úp bát sứ lên, cầm trên tay xóc làm nhiều lần rồi đặt xuống chiếu, người chơi đặt tiền tham gia đánh bạc theo hai cửa chẵn, lẻ. Sau khi người chơi đặt tiền xong thì người xóc cái mở bát ra, nếu có 03 quân vị mặt đen, 01 quân vị mặt trắng hoặc 03 quân vị mặt trắng, 01 quân vị mặt đen ngửa lên thì ván đó là về cửa lẻ, khi đó thì những người đặt tiền ở cửa lẻ thắng được số tiền tương đương số tiền họ đã đặt; Nếu có 02 quân vị mặt đen, 02 quân vị mặt trắng hoặc 04 quân vị mặt đen hoặc 04 quân vị mặt trắng ngửa lên thì ván đó là về cửa chẵn, khi đó thì những người đặt tiền ở cửa chẵn thắng được tiền tương đương số tiền họ đã đặt. Việc trả tiền tiền thắng, thua do người xóc cái thực hiện. Ngoài ra, người chơi còn có thể đánh bạc bằng cách đặt tiền vào bảng vị do Thương sử dụng. Trong bảng vị có 04 ô gồm: ô 03 đen, 01 trắng; ô 03 trắng, 01 đen; ô 04 đen và ô 04 trắng. Trong các ô 03 đen 01 trắng và 03 trắng, 01 đen tỷ lệ được thua là đặt 01 ăn 03 ví dụ: Đặt 10.000 đồng mà thắng thì sẽ được 30.000 đồng, còn thua thì bị mất 10.000 đồng. Trong các ô 04 đen và 04 trắng tỷ lệ được thua là đặt 01 ăn 10 ví dụ: Đặt 10.000 đồng mà thắng thì được 100.000 đồng, nếu thua thì bị mất 10.000 đồng, kết quả xác định thắng, thua của bảng vị căn cứ vào kết quả của người xóc cái khi mở bát, nếu ván nào có 03 quân vị mặt đen, 01 quân vị mặt trắng là về ô 03 đen, 01 trắng, ván nào có 03 quân vị mặt trắng, 01 quân vị mặt đen là về ô 03 trắng, 01 đen, ván nào có 04 quân vị mặt đen là về ô 04 đen, ván nào có 04 quân vị mặt trắng là về ô 04 trắng. Khi đánh bảng vị thì các đối tượng đánh được thua với người cầm bảng vị nhưng qúa trình đánh bạc không có đối tượng nào đánh bảng vị nên T vừa cầm bảng vị vừa tham gia đánh bạc.

Quá trình các đối tượng đánh bạc thì Chu Thị Â ngồi cạnh đó để bán nước cho các đối tượng đánh bạc, còn Tô Văn Q, Lý Văn D không tham gia đánh bạc. Các đối tượng đánh bạc khoảng 15 phút thì Nguyễn Văn C, Nguyễn Danh L đến và tham gia đánh bạc cùng. Các đối tượng đánh bạc đến 18 giờ 30 phút cùng ngày thì bị tổ công tác Công an huyện Y phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên.

Các đối tượng khai nhận sử dụng số tiền đánh bạc như sau: Lý Thị T sử dụng 828.000 đồng, trong đó mới bỏ ra 500.000 đồng để đánh hòa tiền đã bị thu tại chiếu, còn 328.000 đồng trong ví đã bị thu giữ; Vi Văn T sử dụng số tiền 300.000 đồng để đánh bạc, thua 250.000đ, còn lại 50.000 đồng bị rơi tại chiếu bạc đã bị thu giữ; Hoàng Thị L sử dụng số tiền 200.000 đồng để đánh bạc đã thua hết. Lê Đăng B sử dụng số tiền 2.970.000 đồng để đánh bạc bị thua chỉ còn khoảng 300.000 đồng bỏ lại chiếu bạc đã bị thu giữ; Lục Văn D sử dụng số tiền 150.000 đồng để đánh bạc đã thua hết; Phạm Văn T sử dụng số tiền 300.000 đồng để đánh bạc đã thua hết; Quách Thị V sử dụng số tiền 150.000 đồng để đánh bạc đã thua hết, Nguyễn Văn C sử dụng 250.000 đồng để đánh bạc đã thua hết; Nguyễn Danh L sử dụng số tiền 150.000 đồng để đánh bạc đã thua hết. Tổng số tiền chứng minh được các đối tượng sử dụng đánh bạc là 8.728.000 đồng, trong đó 8.400.000 đồng thu tại chiếu bạc và 328.000 đồng thu giữ trong ví của Lý Thị T.

Tại cơ quan điều tra các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tại Cáo trạng số:34/KSĐT, ngày 31-8-2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố các bị cáo Lý Thị T, Tô Văn Q, Lê Đăng B, Lý Văn D, Lục Văn D, Nguyễn Văn C, Vi Văn T, Hoàng Thị L, Nguyễn Danh L, Phạm Văn T, Quách Thị V về tội “Đánh bạc” theo khoản 1, Điều 248- Bộ luật hình sự năm 1999.

Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2017/HSST ngày 11/10/2017 của TAND huyện Y, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:

- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lý Thị T, Tô Văn Q, Lê Đăng B, Lý Văn D, Lục Văn D, Nguyễn Văn C, Vi Văn T, Hoàng Thị L, Nguyễn Danh L, Phạm Văn T, Quách Thị V phạm tội “Đánh bạc”.

- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1, 3 Điều 248; điểm p khoản 1, khoản 2, Điều46; Điều 20; Điều 53; Điều 33;  Điều 45 BLHS, xử phạt bị cáo Lý Thị T 07 (bẩy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ đi số ngày tạm giữ từ 09-6-2017 đến ngày 15-6-2017. Phạt bổ sung bằng tiền 3.000.000 đồng sung công quỹ Nhà nước.

Ngoài ra bản án xử phạt các bị cáo khác trong vụ án với mức án từ 05 tháng tù (nhưng cho hưởng án treo) đến 09 tháng tù, phạt bổ sung bằng tiền từ 3.000.000đồng đến 4.000.000 đồng  sung quỹ Nhà nước, tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

Trong các ngày 17/10/2017 và ngày 23/10/2017 các bị cáo Lê Đăng B, Lục Văn D có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung xin được hưởng án treo, sau đó các bị cáo này đã rút kháng cáo.

Ngày 17/10/2017 bị cáo Lý Thị T kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung xin được hưởng án treo.

Tại phiên toà phúc thẩm:

- Bị cáo Lý Thị T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo, bổ sung yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, lý do: hình phạt 07 tháng tù là nặng, thành khẩn khai báo, hoàn cảnh gia đình khó khăn chồng đi chấp hành án, con nhỏ đang ốm đau bệnh tật.

- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đơn kháng cáo của bị cáo được nộp cho TAND huyện Y, tỉnh Bắc Giang trong thời hạn 15 ngày sau khi tuyên án nên được coi là kháng cáo hợp lệ, đề nghị HĐXX chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm cho bị cáo. Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai. Tại quá trình xét xử phúc thẩm bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào khác. Căn cứ vào vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, khoản 1, Điều 355; Điều 356- BLTTHS không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 38/2017/HSST ngày 11/10/2017 của TAND huyện Y, tỉnh Bắc Giang, cụ thể:

+ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lý Thị T phạm tội “Đánh bạc”.

+ Về hình phạt: Áp dụng khoản 1, Điều 248; điểm p, khoản 1, khoản 2, Điều 46; Điều 20; Điều 53; Điều 33; Điều 45 BLHS, xử phạt bị cáo Lý Thị T 07 (bẩy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ đi số ngày tạm giữ từ 09-6-2017 đến ngày 15-6-2017.

+ Về án phí HSPT: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

+ Các quyết định khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

- Phần thủ tục tranh luận:

+ Bị cáo đề nghị đại diện Viện kiểm sát xem xét về nhân thân của bị cáo không phải là xấu vì chưa bị xét xử bằng hình phạt tù, không phải chịu án phí, mức hình phạt cao hơn bị cáo có nhân thân xấu hơn.

+ Đại diện VKS đối đáp: Bị cáo có hành vi đánh bạc đã bị khởi tố, truy tố. Quá trình xét xử do số tiền đánh bạc chưa đến 5.000.000 đồng nên HĐXX đã căn cứ vào tình hình pháp luật hình sự có sự thay đổi, áp dụng có lợi cho bị cáo nên đã miễn truy cứu trách nhiệm hình sự. Như thế không có nghĩa là bị cáo có nhân thântốt mà  vẫn là người có hành vi vi phạm pháp luật hình sự và bị coi là có nhân thân xấu. Còn việc hình phạt xử cao hơn bị cáo khác là do tính chất vai trò của bị cáo trong vụ án cao hơn đối tượng khác nên cấp sơ thẩm đánh giá và quyết định hình phạt của bị cáo là phù hợp và có căn cứ pháp luật.

- Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận kháng cáo cho bị cáo được hưởng án treo, nếu không được thì cho bị cáo giảm nhẹ hình phạt để có điều kiện chăm lo cho gia đình.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo được làm trong thời hạn kháng cáo và gửi đến Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Giang theo đúng quy định tại khoản 1, Điều 234- Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003  nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp. HĐXX chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Buổi chiều ngày 08-6-2017, bị cáo Lý Thị T cùng các bị cáo Tô Văn Q, Nguyễn Văn C, Vi Văn T, Hoàng Thị L, Nguyễn Danh L, Lục Văn D, Lê Đăng B, Phạm Văn T, Quách Thị V thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh “xóc đĩa”, được thua bằng tiền tại khu vực thôn G, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Các bị cáo đánh bạc đến 18 giờ 30 phút cùng ngày thì bị tổ công tác Công an huyện Y phát hiện bắt quả tang. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc là 8.728.000 đồng trong đó 8.400.000 đồng thu tại chiếu bạc và 328.000 đồng thu giữ trong ví của Lý Thị T. Số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc xác định như sau Lý Thị T sử dụng 828.000 đồng, trong đó mới bỏ ra 500.000 đồng để đánh hòa tiền đã bị thu tại chiếu, còn 328.000 đồng trong ví đã bị thu giữ; Vi Văn T sử dụng số tiền 300.000 đồng để đánh bạc, thua 250.000đ, còn lại 50.000 đồng bị rơi tại chiếu bạc đã bị thu giữ; Hoàng Thị L sử dụng số tiền200.000  đồng để đánh bạc đã thua hết. Lê Đăng B sử dụng số tiền 2.970.000 đồng để đánh bạc bị thua chỉ còn khoảng 300.000 đồng bỏ lại chiếu bạc đã bị thu giữ; Lục Văn D sử dụng số tiền 150.000 đồng để đánh bạc đã thua hết; Phạm Văn T sử dụng số tiền 300.000 đồng để đánh bạc đã thua hết; Quách Thị V sử dụng số tiền 150.000 đồng để đánh bạc đã thua hết, Nguyễn Văn C sử dụng 250.000 đồng để đánh bạc đã thua hết; Nguyễn Danh L sử dụng số tiền 150.000 đồng để đánh bạc đã thua hết. Tổng số tiền chứng minh được các đối tượng sử dụng đánh bạc là8.728.000 đồng.

 Từ nội dung trên án sơ thẩm xét xử và tuyên bố bị cáo Lý Thị T phạm tội “ Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1, Điều 248- BLHS là hoàn toàn có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.

 [3] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Lý Thị T, HĐXX thấy:

- Tại phiên tòa, các bị cáo chỉ có yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo, giảm nhẹ hình phạt nên các vấn đề khác của án sơ thẩm đã tuyên như hình phạt đối với các bị cáo khác, hình phạt bổ sung bằng tiền, xử lý vật chứng, án phí sơ thẩm có hiệu lực pháp luật, HĐXX phúc thẩm không đặt ra giải quyết.

- Về tính chất của vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo cùng các đồng phạm là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến lĩnh vực an toàn, trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân.

- Về vai trò của bị cáo trong vụ án: Các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội, tuy nhiên không có sự câu kết tổ chức chặt chẽ giữa các bị cáo trong việc thực hiện tội phạm nên chỉ mang tính đồng phạm giản đơn. Bị cáo Lý Thị T là người cầm bảng vị, có nhân thân xấu, sử dụng số tiền nhiều thứ hai tham gia đánh bạc, nên cấp sơ thẩm xác định bị cáo giữ vai trò thứ hai cùng một số bị cáo khác trong vụ án là có căn cứ.

- Về nhân thân của bị cáo Lý Thị T cấp sơ thẩm xác định có “nhân thân xấu” là có căn cứ bởi vì: Bản án số 12/2016/HSST ngày 15-4-2016, được Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Giang xét xử miễn truy cứu trách nhiệm hình sự ( Do tổng số tiền các đối tượng sử dụng đánh bạc dưới 5.000.000 đồng)

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Cấp sơ thẩm xác định bị cáo Lý Thị T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 48- BLHS là có căn cứ.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Lý Thị T, HĐXX thấy: Cấp sơ thẩm xác định quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo có thái độ “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; ngoài ra bị cáo có bố đẻ được tặng huân chương kháng chiến nên cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại tại điểm p, khoản 1 và khoản 2, Điều 46 của BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 cho bị cáo là có căn cứ.

- Từ những nội dung trên cấp sơ thẩm xét xử bị cáo mức hình phạt 07 tháng tù là có căn cứ pháp luật.

- Tại quá trình xét xử phúc thẩm bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới. Lý do hoàn cảnh gia đình có khó khăn không phải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị cáo cho rằng chưa bị xét xử tù, phạt tiền bổ sung và án phí nên không phải là người có nhân thân xấu và hình phạt cao hơn các bị cáo khác có nhân thân xấu. HĐXX thấy rằng bị cáo đã có hành vi vi phạm pháp luật hình sự, đã bị truy tố, đưa ra xét xử nhưng do thay đổi của luật pháp nên được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc. Vai trò của bị cáo trong vụ án cao hơn các bị cáo khác, là người chủ động gọi cho bị cáo Tô Văn Q để hỏi địa điểm đánh bạc, trực tiếp đánhbạc theo hai cửa chẵn, lẻ và còn chuẩn bị bảng vị để đánh bạc với các đối tượng khác, số tiền đánh bạc nhiều thứ hai so với các bị cáo khác  trong vụ án. Do đó, căn cứ tính chất của vụ án, vai trò, nhân thân của bị cáo trong vụ án, hướng dẫn tại khoản 1, khoản 2, Điều 2- Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đề nghị của đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang, HĐXX thấy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của bị cáo. Cần giữ nguyên bản án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo.

 [4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên theo quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 23- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

 [5] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 355; Điều 356- Bộ luật tố tụng hình sự.

 [1]. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của bị cáo Lý Thị T. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 38/2017/HSST ngày 11/10/2017 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Giang đối với bị cáo.

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lý Thị T phạm tội “Đánh bạc”.

- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1, Điều 248; điểm p, khoản 1, khoản 2, Điều 46; Điều 20; Điều 53; Điều 33; Điều 45- Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, xử phạt bị cáo Lý Thị T 07 (bẩy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ đi số ngày tạm giữ từ 09-6-2017 đến ngày 15-6-2017.

[2]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng điểm a, khoản 2, Điều 23- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Lý Thị T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

[3]. Các vấn đề khác: Các quyết định khác của bản án sơ thẩm số 38/2017/HSST ngày 11/10/2017 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Giang không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.


27
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 42/2018/HSPT ngày 13/04/2018 về tội đánh bạc 

Số hiệu:42/2018/HSPT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Bắc Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:13/04/2018
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về