Bản án 43/2017/DS-ST ngày 28/08/2017 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 43/2017/DS-ST NGÀY 28/08/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Trong ngày 28 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 41/2017/TLST - DS, ngày 04 tháng 4 năm 2017 về “tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2017/QĐXX - ST, ngày 21 tháng 7 năm 2017, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V; Địa chỉ: Tòa nhà Đ, số nhà 72, phố Đ, phường Đ, quận K, Thành Phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Hoàng Văn Q; Sinh năm:

1962; Địa chỉ: đường T, khóm 1, phường 2, thành phố T, tỉnh Sóc Trăng, là người đại diện theo ủy quyền “văn bản ủy quyền số 95/2016/UQ-GĐK-TDTD, ngày 10/3/2017”. (có mặt).

2. Bị đơn: Bà Cao Thị V; Sinh năm: 1974; Địa chỉ: ấp B, xã Trường K, huyện P, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Trong đơn khởi kiện lập ngày 15/3/2017 của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Hoàng Văn Q trình bày: Vào ngày 22/11/2013, bà Cao Thị V có ký hợp đồng tín dụng số 20131121-500000-0041 với Ngân hàng TMCP V (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) vay số tiền là 29.400.000 đồng với lãi suất 3,75%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo giao kết tại hợp đồng, bà V có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng số tiền 54.834.000 đồng bao gồm cả nợ gốc và lãi, trả chậm trong 36 tháng, trong 35 tháng đầu mỗi tháng trả 1.502.000 đồng, tháng cuối cùng trả 2.264.000 đồng, thanh toán vào ngày 15 hàng tháng, bắt đầu từ ngày 15/01/2014. Thực hiện hợp đồng, bà Cao Thị V đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng cá nhân và thanh toán cho Ngân hàng được 21 kỳ với số tiền là 31.542.000 đồng (trong đó tiền gốc là 12.650.638 đồng và lãi là 18.891.362), lần cuối cùng trả vào ngày 12/5/2016. Tính đến khi hết hạn hợp đồng vào ngày 15/01/2017 thì bà V còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 23.292.000 đồng (trong đó tiền vay gốc còn lại là 16.749.362 đồng và tiền lãi theo giao kết trong hợp đồng là 6.542.638 đồng).

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu bị đơn bà Cao Thị V hoàn trả cho Ngân hàng tổng số tiền là 23.292.000 đồng (trong đó tiền vay gốc còn lại là 16.749.362 đồng và tiền lãi theo giao kết trong hợp đồng là 6.542.638 đồng) và yêu cầu tiếp tục tính lãi chậm trả trên số tiền vay gốc là 16.749.362 đồng từ ngày 16/01/2017 (ngày hết hạn hợp đồng) đến ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất là 0,83%/tháng. Ngoài ra, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày Ngân hàng có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng bà Cao Thị V phải trả lãi cho Ngân hàng theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

- Đối với bị đơn bà Cao Thị V thì sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập bà V 02 lần để tham gia tố tụng tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các văn bản tố tụng khác, nhưng không thể thực hiện được thủ tục cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp cho bà V được vì bà V đã bỏ địa phương đi và không thông báo cho Tòa án và nguyên đơn biết việc đã thay đổi địa chỉ nơi cư trú và địa chỉ nơi cư trú mới, nên căn cứ vào khoản 3 Điều 70, khoản 1 Điều 72, khoản 3 Điều 177 và Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng cho bà V theo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn bà Cao Thị V đã được triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

- Tại phiên toà, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú tham gia phiên tòa trình bày ý kiến: Việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và xác định tư cách của người tham gia tố tụng trong vụ án là đúng quy định của pháp luật; Việc tuân theo pháp luật của Thâm phan , Thư ký, Hôi đông xet xư va những người tham gia tố tụng trong qua trinh giai quyêt vu an kê tư khi thu ly vu án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã chấp hành đúng các quy đinh cua phap luât vê tô tung dân sư , đối với bị đơn bà Cao Thị V chưa chấp hành đúng quy đinh cua phap l uât vê tô tung dân sư . Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra các chứng cứ và kết quả tranh luận tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 280, Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V và buộc bị đơn bà Cao Thị V hoàn trả cho nguyên đơn số tiền vay gốc là 16.749.362 đồng và tiền lãi theo giao kết trong hợp đồng là 6.542.638 đồng) và tiền lãi chậm trả trên số nợ gốc từ ngày 16/01/2017 đến ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất 10%/năm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 [1] Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn bà Cao Thị V, nhưng không thể thực hiện được thủ tục cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp cho bà V được vì bà V đã bỏ địa phương đi và không thông báo cho Tòa án và nguyên đơn biết việc đã thay đổi địa chỉ nơi cư trú và địa chỉ nơi cư trú mới, căn cứ vào khoản 3 Điều 70, khoản 1 Điều 72, khoản 3 Điều 177 và Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng cho bà V. Bị đơn bà Cao Thị V đã được triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và khoản 3 Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà V.

 [2] Xét yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Để chứng minh cho việc bà Cao Thị V có vay vốn, Ngân hàng cung cấp cho Tòa án chứng cứ là Hợp đồng tín dụng số 20131121-500000-0041 ngày 22/11/2013 (bút lục 13) có chữ ký của bị đơn bà Cao Thị V ở mục bên vay, lịch sử thanh toán khách hàng Cao Thị V (bút lục 31) và các giấy tờ khác có liên quan. Xét thấy, về hình thức, nội dung các văn bản này là phù hợp theo quy định pháp luật. Đồng thời, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai các tài liệu, chứng cứ mà bên nguyên đơn cung cấp và thông báokết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho bà V biết nhưng bà V không có ý kiến phản đối gì. Căn cứ vào khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 các tình tiết nêu trên là tình tiết không phải chứng minh trong vụ án, nên Hội đồng xét xử khẳng định bà Cao Thị V đã vay và nhận đủ của Ngân hàng số tiền là 29.400.000 đồng. Theo lịch sử thanh toán do Ngân hàng cung cấp thể hiện sau khi vay bà V đã trả cho Ngân hàng được 21 kỳ vào với số tiền vốn và lãi là 31.542.000 đồng, lần cuối cùng trả vào ngày 12/5/2016, việc bà V không thực hiện nghĩa vụ trả tiếp dư nợ gốc và lãi theo giao kết trong hợp đồng đã vi phạm Điều 2 và Điều 7 của Hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết, bà V là người có lỗi và là người vi phạm hợp đồng nên phải chịu mọi hậu quả theo giao kết và theo quy định của pháp luật. Vì vậy, việc nguyên đơn Ngân hàng yêu cầu bị đơn bà V phải trả cho Ngân hàng số tiền vay gốc còn lại là 16.749.362 đồng và tiền lãi là phù hợp theo quy định tại Điều 280, khoản 1 và khoản 5 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

 [3] Xét yêu cầu tính lãi của nguyên đơn Ngân hàng và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20131121-500000-0041 ngày 22/11/2013 (bút lục 13, 14) giữa Ngân hàng và bà Cao Thị V đã giao kết mức lãi suất là 3.75%/tháng nên bà V phải có nghĩa vụ trả lãi cho Ngân hàng theo giao kết, tuy nhiên tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chỉ yêu cầu bà V hoàn trả tiền lãi theo giao kết đến ngày 15/01/2017 (ngày hết hạn hợp đồng) và tiền lãi chậm trả trên số nợ gốc từ ngày 16/01/2017 cho đến ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất 0,83%/tháng là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 466 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Như vậy, bà Cao Thị V phải hoàn trả cho Ngân hàng số tiền lãi theo giao kết hợp đồng là 6.542.638 đồng (15 kỳ và lãi suất giảm dần theo giao kết) và tiền lãi chậm trả trên số tiền vay gốc là 16.749.362 đồng từ ngày 16/01/2017 (ngày hết hạn hợp đồng) đến ngày xét xử sơ thẩm 28/8/2017 là 07 tháng 12 ngày x 0,83%/tháng = 1.028.746 đồng, tổng cộng tiền lãi bà V phải hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng là 7.517.384 đồng.

Như vậy, bị đơn bà Cao Thị V có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP V số tiền vay gốc là 16.749.362 đồng và tiền lãi là 7.571.384 đồng, tổng cộng là 24.320.074 đồng.

Ngoài ra, khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ Ngân hàng TMCP V có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng bà Cao Thị V phải trả lãi cho Ngân hàng theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 đối với số tiền chậm thi hành án.

 [4] Từ những phân tích nêu trên, xét yêu cầu của nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

 [5 Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị đơn bà Cao Thị V phải chịu 1.216.037 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nguyên đơn Ngân hàng TMCP V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 70, khoản 1 Điều 72, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, khoản 3 Điều 177, Điều 179, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 235, khoản 1 Điều 244, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 280, Điều 463, khoản 1 và khoản 5 Điều 466, khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều 468, điểm b khoản 1 Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật thi hành án dân sự.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V. Buộc bị đơn bà Cao Thị V có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền vay gốc là 16.749.362 đồng (Mười sáu triệu, bảy trăm bốn mươi chín nghìn, ba trăm sáu mươi hai đồng) và tiền lãi là 7.571.384 đồng (Bảy triệu, năm trăm bảy mươi mốt nghìn, ba trăm tám mươi bốn đồng), tổng cộng là 24.320.074 đồng (Hai mươi bốn triệu, ba trăm hai mươi nghìn, không trăm bảy mươi bốn đồng).

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày Ngân hàng TMCP V có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng bà Cao Thị V còn phải trả lãi cho Ngân hàng theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 đối với số tiền chậm thi hành án.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn bà Cao Thị V phải chịu 1.216.037 đồng (Một triệu, hai trăm mười sáu nghìn, không trăm ba mươi bảy đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí là 582.000 đồng (Năm trăm tám mươi hai nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0006725, ngày 31/3/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn bà Cao Thị V vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


58
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 43/2017/DS-ST ngày 28/08/2017 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:43/2017/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Long Phú - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:28/08/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về