Bản án 43/2019/DS-ST ngày 13/09/2019 về tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 43/2019/DS-ST NGÀY 13/09/2019 VỀ TRANH CHẤP LIÊN QUAN ĐẾN TÀI SẢN BỊ CƯỠNG CHẾ ĐỂ THI HÀNH ÁN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Ngày 13 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 137/2019/TLST-DS ngày 17 tháng 5 năm 2019 về “tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2019/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị B, sinh năm 1959; cư trú tại: Số 613, ấp G, xã L, huyện H, tỉnh Tây Ninh; “vắng mặt có đơn xin”.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1983 và chị Mai Thị Kim T, sinh năm 1987; cùng cư trú tại: Tổ 3, ấp Thành Tây, xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh; “vắng mặt có đơn xin”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện ngày 03/5/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị B trình bày:

Trước đây vào ngày 07/10/2016, vợ chồng anh Nguyễn Thanh T, chị Mai Thị Kim T có mượn của con bà B là chị Lê Thị Hoàng Kim N số tiền 250.000.000 đồng. Khi chị N đòi lại số tiền trên thì anh T, chị T không còn khả năng trả nợ và có ý định bán đất cho chị N để trừ nợ, nhưng chị N không đủ tiền mua. Do đó, ngày 17/9/2018 chị N giới thiệu cho anh T, chị T đến gặp bà B để thỏa thuận việc bán đất cho bà B. Các bên bàn bạc và thống nhất là vợ chồng anh T, chị T sang nhượng cho bà B phần đất diện tích 289,9m2 thuộc thửa đất số 59, tờ bản đồ số 51, tọa lạc tại ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh do Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh cấp cho anh T, chị T đứng tên ngày 22/10/2014, vào sổ số: CH 00702, với giá là 520.000.000 đồng. Tại thời điểm này bà B cũng chưa có đủ tiền và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh T, chị T lại đang thế chấp tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Tây Ninh vay số tiền 210.000.000 đồng. Vì vậy, hai bên thống nhất làm giấy tay sang nhượng, thỏa thuận ngày làm giấy tay 17/9/2018 bà B sẽ giao số tiền 297.000.000 đồng cho vợ chồng anh T, chị T xoay sở gia đình và trả nợ cho chị N 210.000.000 đồng (trước đó đã trả 40.000.000 đồng); đến thời gian khoảng 05 tháng sau bà B có đủ tiền sẽ giao cho anh T, chị T 210.000.000 đồng và số tiền lãi phát sinh để anh chị đi chuộc lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thế chấp tại Ngân hàng, tiếp đó sẽ đi làm thủ tục sang tên theo quy định pháp luật. Vợ chồng anh T, chị T đã bàn giao tài sản là phần đất cho bà B tiếp nhận sử dụng từ ngày 17/9/2018, bà B nhận đất, cắm trụ rào và trồng một số hoa màu trên đất cho đến nay. Các bên đã thực hiện đúng các nội dung thỏa thuận, đến ngày 28/02/2019 khi bà B có đủ tiền thì cùng nhau đi trả nợ Ngân hàng và đến Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh tiến hành làm Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo mẫu và được Ủy ban nhân dân xã H chứng thực hợp đồng đúng quy định.

Trong suốt quá trình tiến hành hợp đồng chuyển nhượng giữa bà B và vợ chồng anh T, chị T thì không có ai tranh chấp, cũng như không có thông báo hay quyết định kê biên nào của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh về việc tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng đối với phần đất trên. Ngày 07/3/2019 Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Tây Ninh – Chi nhánh huyện Châu Thành đã vào sổ trích lục bản đồ địa chính số 63.

Đến ngày 11/3/2019 Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành gửi Quyết định số 32/QĐ-CCTHADS về việc tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng đối với phần đất mà các bên chuyển nhượng nêu trên đến Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Tây Ninh – Chi nhánh huyện Châu Thành.

Nay bà B yêu cầu vợ chồng anh T, chị T có trách nhiệm hoàn tất thủ tục sang nhượng quyền sử dụng đất phần đất diện tích 289,9m2 thuộc thửa đất số 59, tờ bản đồ số 51, tọa lạc tại ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh do Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 22/10/2014 cho anh T, chị T đứng tên. Nếu Tòa án không cho lưu thông hợp đồng thì bà B yêu cầu vợ chồng anh T, chị T hoàn trả lại số tiền bà B đã bỏ ra và yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật.

- Theo các lời khai trong quá trình làm việc, bị đơn anh Nguyễn Thanh T trình bày:

Anh T thừa nhận lời trình bày của bà B là hoàn toàn đúng, anh đồng ý hoàn tất thủ tục sang nhượng quyền sử dụng đất phần đất diện tích 289,9m2 thuộc thửa đất số 59, tờ bản đồ số 51, tọa lạc tại ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh do Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 22/10/2014 do vợ chồng anh đứng tên cho bà B. Anh T yêu cầu Tòa án xem xét cho lưu thông hợp đồng, nếu không lưu thông được anh đồng ý ý kiến giải quyết hậu quả hợp đồng của bà B.

bày:

- Theo các lời khai trong quá trình làm việc, bị đơn chị Mai Thị Kim T trình Chị T thống nhất với lời trình bày của chồng là anh Nguyễn Thanh T, yêu cầu Tòa án cho lưu thông hợp đồng.

Tại phiên tòa:

Bà Lê Thị B và vợ chồng anh Nguyễn Thanh T, chị Mai Thị Kim T vắng mặt, không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự tham gia tố tụng trong vụ án đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà B đối với anh T, chị T. Công nhận hợp đồng chuyễn nhượng quyền sử dụng đất ngày 28/02/2019 ký kết giữa bà B với anh T, chị T đối với phần đất diện tích 289,9m2 thuộc thửa đất số 59, tờ bản đồ số 51, tọa lạc tại ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh do Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh cấp cho anh T, chị T đứng tên ngày 22/10/2014, vào sổ số: CH 00702.

Về chi phí thẩm định giá: Ghi nhận bà B tự nguyện chịu và đã nộp xong. Về án phí: Anh T, chị T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và nội dung vụ án, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự” theo quy định tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Lê Thị B và bị đơn, anh Nguyễn Thanh T, chị Mai Thị Kim T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.

[3] Về nội dung vụ án: Bà Lê Thị B yêu cầu cho lưu thông hợp đồng chuyễn nhượng quyền sử dụng đất giữa bà với anh T, chị T ký kết ngày 28/02/2019, đối tượng của hợp đồng là phần đất diện tích 289,9m2 thuộc thửa đất số 59, tờ bản đồ số 51, tọa lạc tại ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh do Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh cấp vào sổ số: CH 00702 ngày 22/10/2014 cho anh T, chị T đứng tên, trên đất có 02 cây xanh. Xét thấy, hợp đồng chuyễn nhượng quyền sử dụng đất giữa bà B và anh T, chị T lập ngày 28/02/2019 là hợp pháp, có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà B. Tại thời điểm chuyễn nhượng, phần đất trên không bị kê biên, không có ai tranh chấp. Về hình thức hợp đồng, hai bên đã thực hiện chứng thực đúng quy định, đã tiến hành thủ tục đăng ký vào sổ địa chính. Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Tây Ninh – Chi nhánh huyện Châu Thành đã chỉnh lý hồ sơ địa chính đối với phần đất chuyễn nhượng trên trước thời điểm Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành có Quyết định về việc tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng đối với phần đất mà các bên chuyển nhượng nêu trên; do đó hợp đồng chuyễn nhượng giữa hai bên đã có hiệu lực theo quy định tại khoản 3 Điều 188 Luật đất đai. Bên mua đã giao đủ tiền và nhận đất, sử dụng từ tháng 09/2018 đến nay. Khi mua đất, bà B không biết việc anh T, chị T thiếu nợ người khác, việc bà B mua phần đất trên là ngay tình. Số tiền anh T, chị T bán đất chủ yếu sử dụng vào mục đích trả nợ Ngân hàng và trả nợ cho chị N. Căn cứ chứng thư thẩm định giá phần đất trên và kết quả xác minh tại địa phương cho thấy giá chuyễn nhượng không chênh lệch lớn so với giá thực tế tại thị trường. Do đó, không có cơ sở cho rằng việc mua bán đất giữa bà B với anh T, chị T là hành vi tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ trả nợ.

[4] Về chi phí tố tụng (thẩm định giá): Trong đơn xin xét xử vắng mặt, bà Lê Thị B tự nguyện chịu 4.000.000 đồng tiền chi phí thẩm định giá nên ghi nhận.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của bà B được chấp nhận, căn cứ Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc anh T, chị T phải chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 124, 129 của Bộ luật Dân sự; các Điều 95, 188 của Luật đất đai; các Điều 26, 35, 39, 147 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị B đối với anh Nguyễn Thanh T, chị Mai Thị Kim T.

Công nhận hợp đồng chuyễn nhượng quyền sử dụng đất ngày 28/02/2019 ký kết giữa bà B với anh T, chị T đối với phần đất diện tích 289,9m2 thuộc thửa đất số 59, tờ bản đồ số 51, tọa lạc tại ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh do Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh cấp vào sổ số: CH 00702 ngày 22/10/2014 cho anh T, chị T đứng tên, trên đất có 02 cây xanh.

Về chi phí tố tụng (thẩm định giá): Bà Lê Thị B tự nguyện chịu 4.000.000 (bốn triệu) đồng tiền chi phí thẩm định giá và đã nộp xong nên ghi nhận.

2. Về án phí: Anh T, chị T phải chịu án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


20
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 43/2019/DS-ST ngày 13/09/2019 về tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự

Số hiệu:43/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Tây Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:13/09/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về