Bản án 440/2018/HSPT ngày 08/10/2018 về tội đánh bạc và tổ chức đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 440/2018/HSPT NGÀY 08/10/2018 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC VÀ TỔ CHỨC ĐÁNH BẠC

Ngày 08 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 308/2018/TLPT-HS ngày 17 tháng 7 năm 2018 đối với các bị cáo Nguyễn Văn B, Nguyễn Thị Thu N, Nguyễn M và Phạm Thái D do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 80/2018/HS-ST ngày 07-6-2018 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo có kháng cáo :

1. Nguyễn Văn B, giới tính: nam; sinh năm: 1966, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: 92/99 XVNT, Phường Z, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 6/12; con ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị Th; có vợ: Mai Thị Th; tiền sự: không; tiền án: không; bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 05-7-2017 đến ngày 28-12-2017 được thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú – Có mặt.

2. Nguyễn Thị Thu N, tên gọi khác: Điều; giới tính: nữ; sinh năm: 1981, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: 92/99 XVNT, Phường Z, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: 3/12; con ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị Th; có chồng: Trần Văn Khvà 02 người con (lớn sinh năm 2001 nhỏ sinh năm 2010); tiền sự: ngày 30-9-2016 bị Công an Phường Z, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt hành chính về hành vi Đánh bạc; tiền án: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05-7-2017 – vắng mặt.

3. Nguyễn M, giới tính: nam; sinh năm: 1967, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 142/3A PVT, Phường Z, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: 21/24 NX, Phường Z, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa:

10/12; con ông Nguyễn K và bà Nguyễn Thị Th; có vợ : Lâm Thị Kiều Tr và 02 người con (lớn sinh năm 1996 nhỏ sinh năm 2004); tiền sự: không; tiền án: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05-7-2017 – vắng mặt .

4. Phạm Thái D, giới tính: nam; sinh năm: 1975, tại tỉnh CM; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp TN, xã RC, huyện PT, tỉnh CM; chỗ ở: 92/156 XVNT, Phường Z, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 10/12; con ông Phạm Văn Q và bà Lê Thị A; tiền sự: Không; tiền án: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05-7-2017 – vắng mặt .

Ngoài ra vụ án còn có bị cáo Phan Văn Ckhông có kháng cáo, không bị kháng nghị – vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 23 giờ 30 ngày 05-7-2017, Công an quận BT bắt quả tang Nguyễn Thị Thu N đang tổ chức cho Phan Văn Chương, Nguyễn M, Phạm Thái D, Nguyễn Văn B đánh bài ăn tiền bằng hình thức binh sập xám, để thu tiền xâu tại nhà số: 92/99 XVNT, Phường Z, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh. Thu giữ: 02 bộ bài tây 52 lá, 01 tấm bạt màu xanh, 01 hũ nhựa đựng tiền xâu có 160.000 đồng, tiền sử dụng đánh bạc 18.290.000 đồng.

Nguyễn Thị Thu N khai nhận: Nguyệt rủ các con bạc đến nhà đánh bạc để thu tiền xâu được khoảng 15 ngày, thu lợi khoảng 3.000.000 đồng. Ngày 05-7- 2017, có Phan Văn Chương, Nguyễn M, Phạm Thái D, Nguyễn Văn B đến nhà Nguyệt chơi bạc bằng hình thức đánh bài binh sập xám ăn thua bằng tiền, mỗi tụ làm cái 02 ván xoay vòng, mỗi ván đặt từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng và người nào làm cái phải nộp tiền xâu 10.000 đồng.

Phan Văn Ckhai nhận: Chương mang theo 26.550.000 đồng, sử dụng 3.000.000 đồng để đánh bạc, thua 390.000 đồng. Khi bị bắt thu giữ trên chiếu bạc 2.710.000 đồng.

Nguyễn M khai nhận: Minh mang theo 5.000.000 đồng, sử dụng 2.300.000 đồng để đánh bạc, thắng 3.630.000 đồng. Khi bị bắt thu giữ trên chiếu bạc 5.930.000 đồng.

Phạm Thái D khai nhận: Dương mang theo 1.200.000 đồng để đánh bạc, thắng 3.250.000 đồng. Khi bị bắt thu giữ trên chiếu bạc 4.450.000 đồng.

Nguyễn Văn B khai nhận: Bình mang theo 5.400.000 đồng, sử dụng 5.350.000 đồng để đánh bạc, thua 150.000 đồng. Khi bị bắt thu giữ trên chiếu bạc 5.200.000 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 80/2018/HS-ST ngày 07-6-2018 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu N phạm tội “ Tổ chức đánh bạc ”; các bị cáo Phan Văn Chương, Nguyễn M, Phạm Thái D, Nguyễn Văn B phạm tội “ Đánh bạc ”.

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05-7-2017.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Phan Văn C02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt để chấp hành án (được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 05-7-2017 đến ngày 14-7- 2017).

Áp dụng khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt để chấp hành án (được trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 05-7-2017 đến ngày 28-12-2017).

Áp dụng khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn M 01 (một) năm 01 (một) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05-7-2017.Áp dụng khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Phạm Thái D 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05- 7-2017.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 20-6-2018 bị cáo Nguyễn Thị Thu N có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Đến ngày 19-7-2018 bị cáo Nguyệt có đơn rút kháng cáo.

Ngày 20-6-2018 bị cáo Nguyễn M có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Đến ngày 09-7-2018 bị cáo Minh có đơn rút kháng cáo.

Ngày 13-6-2018 bị cáo Phạm Thái D có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. 02-7-2018 bị  cáo Dương có đơn rút kháng cáo.

Ngày 14-6-2018 bị cáo Nguyễn Văn B có đơn kháng cáo toàn bộ bản án.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo Nguyễn Văn B khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đồng thời xác định nội dung kháng cáo là xin được hưởng án treo. Trong phần tranh luận, bị cáo không tranh luận gì.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm xét xử vụ án: Với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Đánh bạc” là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo bổ sung tình tiết giảm nhẹ mới là hiện đang có việc làm ổn định, xét thấy bị cáo có nhân thân tốt đã thực hiện nghĩa vụ quân sự tại chiến trường Campuchia nên không cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội. Vì vậy đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo và sửa bản án án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt chuyển cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi.

Riêng các bị cáo Nguyễn Thị Thu N, Nguyễn M, Phạm Thái D đã rút kháng cáo nên đề nghị đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1] Vào lúc 23 giờ 30 ngày 05-7-2017, Công an quận BTbắt quả tang Nguyễn Thị Thu N đang tổ chức cho Phan Văn Chương, Nguyễn M, Phạm Thái D, Nguyễn Văn B đánh bài ăn tiền bằng hình thức binh sập xám, để thu tiền xâu tại nhà số 92/99 XVNT, Phường Z, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh. Thu giữ: Trên chiếu bạc 160.000 đồng tiền xâu và 18.290.000 đồng tiền dùng đánh bạc. Kết quả điều tra xác định:

Nguyễn Thị Thu N rủ các con bạc đến nhà đánh bạc để thu tiền xâu được khoảng 15 ngày, thu lợi khoảng 3.000.000 đồng. Ngày 05-7-2017, có Phan Văn Chương, Nguyễn M, Phạm Thái D, Nguyễn Văn B đến nhà Nguyệt chơi đánh bạc bằng hình thức đánh bài binh sập xám ăn thua bằng tiền, mỗi tụ làm cái 02 ván xoay vòng, mỗi ván đặt từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng và người nào làm cái phải nộp tiền xâu cho Nguyệt 10.000 đồng.

Các bị cáo Phan Văn Csử dụng 2.710.000 đồng để đánh bạc, Nguyễn M sử dụng 5.930.000 đồng để đánh bạc, Phạm Thái D sử dụng 4.450.000 đồng để đánh bạc, Nguyễn Văn B sử dụng 5.200.000 đồng để đánh bạc.

Với hành vi đó của các bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử và tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu N phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; các bị cáo Phan Văn Chương, Nguyễn M, Phạm Thái D, Nguyễn Văn B phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 và khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009 là có căn cứ, đúng pháp luật.

 [2] Sau khi xét xử sơ thẩm các bị cáo Nguyễn Thị Thu N, Nguyễn M, Phạm Thái D, Nguyễn Văn B làm đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết xét xử theo trình tự phúc thẩm.

 [3] Xét trước khi mở phiên tòa xét xử phúc thẩm các bị cáo Nguyễn Thị Thu N, Nguyễn M, Phạm Thái D có đơn rút kháng cáo. Căn cứ khoản 1 Điều 348 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của các bị cáo.

 [4] Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn B xin được hưởng án treo, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ là: bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; đã thực hiện xong nghĩa vụ quân sự tham gia chiến trường Campuchia bảo vệ Tổ quốc theo qui định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ và xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 01 (một) năm tù là tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo bổ sung tình tiết giảm nhẹ mới là Công ty TNHH Một thành viên Công viên cây xanh Thành phố Hồ Chí Minh xác nhận bị cáo hiện làm việc ổn định tại Công ty và trong quá trình làm việc bị cáo luôn hoàn thành công việc được giao và chấp hành tốt kỷ luật lao động, nội quy của Công ty, ngoài ra bị cáo có nhân thân tốt có thời gian tham gia quân đội tại chiến trường Campuchia, bị cáo cũng đã bị tạm giam gần 06 tháng trong thời gian tại ngoại bị cáo không vi phạm pháp luật nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở. Do vậy, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo.

 [5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

 [6] Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo qui định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án có hiệu lực ngày 01/01/2017.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 348 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị Thu N, Nguyễn M, Phạm Thái D. Bản án sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo trên có hiệu lực thi hành.

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn B, sửa bản án sơ thẩm số 80/2018/HS-ST ngày 07-6-2018 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh về biện pháp chấp hành hình phạt đối với Nguyễn Văn B; phạt bị cáo Nguyễn Văn B 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày 08 tháng 10 năm 2018. Giao bị cáo Nguyễn Văn B cho Ủy ban nhân dân phường Phường 21, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Bình thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Bị cáo Nguyễn Văn B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. (Đã giải thích chế định về án treo cho bị cáo Nguyễn Văn B biết).7


82
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về