Bản án 44/2017/DS-PT ngày 12/09/2017 về yêu cầu tuyên bố hợp đồng dân sự chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
BẢN ÁN 44/2017/DS-PT NGÀY 12/09/2017 VỀ YÊU CẦU TUYÊN BỐ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÔ HIỆU VÀ GIẢI QUYẾT HẬU QUẢ CỦA HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU

Ngày 12 tháng 9 năm 2017, tại Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 25/2017/TLPT-DS ngày 20 tháng 6 năm 2017, về yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng dân sự chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu;

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2017/DS-ST ngày 8 tháng 5 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai bị kháng cáo và kháng nghị.Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 65/2017/QĐ-PT ngày 31 tháng 7 năm 2017, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Q; đia chi: Sô 839 Bis đương L, phương T , quânT, Thành  phố Hồ Chí Minh. Có mặt.

Ngươi bao vê quyên va lơi ich hơp phap cua nguyên đơn: Ông Nguyên Quôc H, Luât sư cua văn phong Luât sư Quôc H thuôc Đoan Luât sư Thanh phô Hô Chi Minh. Có mặt.

Bị đơn: Ông Ngô Sy X và bà Trần Thị Tuyết L; cư tru cung đia chỉ: Sô 11 đương Đ, phương I, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Duy Ngọc; địa chỉ: Số 13 đường N, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH Thương mại - Chế biến nông lâm sản - Đ (sau đây viết tắt là Công ty V); địa chỉ: Buôn D, xã C, huyện K, tỉnh Gia Lai; do bà Nguyễn Thị Như Q, Tổng giám đốc Công ty, làm đại diện theo pháp luật. Bà Q có mặt.

Người kháng cáo: Bị đơn là ông Ngô Sy X, bà Trần Thị Tuyết L.

Viện kiểm sát kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2017/DS-ST ngày 8 tháng 5 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai thì nội dung vụ án như sau: Nguyên đơn là bà Bùi Thị Q trình bày: Ngày 5-3-2015, bà ký với vợ chồng ông Ngô Sỹ X, bà Trần Thị Tuyết L 2 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, gồm một hợp đồng đối với 100.000 m2 đất và một hợp đồng đối với 300.000 m2 đất.

Ngày 10-5-2015, bà vay của Công ty V 2.200.000.000 đồng và đến ngày 12-5-2015, bà nhờ nhân viên của Công ty này chuyển 2.200.000.000 đồng choông X, bà L theo hợp đồng chuyển nhượng 100.000 m2 đất mà bà ký kết ngày 5-3-2015.

Trong “Ủy nhiệm chi” đề ngày 12-5-2015 ghi số tiền chuyển cho ông X, bà L là 2.250.200.000 đồng thì trong đó có 2.200.000.000 đồng là bà nhờ chuyển nói trên, còn 50.200.000 đồng là tiền Công ty V chuyển trả theo Biên bản thỏa thuận chuyển nhượng quyền canh tác đất, đền bù hoa màu và tài sản trên đất đối với 178.600 m2 đất mà Công ty này ký với ông X, bà L ngày 11-5-2015.

Sau khi bà chuyển số tiền trên, ông X, bà L không giao 100.000 m2 đất cho bà. Vì vậy, bà yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng 100.000 m2 đất được ký giữa bà với ông X, bà L vào ngày 5-3-2015 vô hiệu và buộc bị đơn phải trả cho bà 2.546.500.000 đồng, trong đó có 2.200.000.000 đồng bà chuyển theo hợp đồng và 546.500.000 đồng tiền lãi của 2.200.000.000 đồng trong 14 tháng theo mức lãi 13,5%/năm và tiền lãi cho đến khi xét xử sơ thẩm.

Bà nhờ nhân viên Công ty V chuyển 2.200.000.000 đồng, lúc đầu ở phần nội dung tại “Ủy nhiệm chi” đề ngày 12-5-2015 có ghi chuyển tiền theo hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 5-3-2015, nhưng qua việc Tòa án thu thập chứng cứ tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện K thì mục này không ghi, không phải do bà gian dối tự ghi vào, mà là do lỗi của Ngân hàng không hướng dẫn nhân viên của Công ty V ghi cụ thể. Khi nhân viên cầm “Ủy nhiệm chi” này về để quyết toán chứng từ thu chi của Công ty cho đúng quy định của pháp luật nên đã phải tự ghi vào, việc ghi này là phù hợp chứng từ kế toán, chứ không có sự gian lận hay lừa đảo ai, vì thực chất chứng từ đó chuyển 2.250.200.000 đồng cho ông X, bà L.

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng 100.000 m2  đất được ký giữa nguyên đơn với ông X, bà L vào ngày 5-3-2015 vô hiệu và buộc bị đơn phải trả lại 2.200.000.000 đồng; nguyên đơn rút yêu cầu về việc đề nghị Tòa án buộc bị đơn phải trả lãi.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là ông Nguyễn Quốc H trình bày:

Ngày 5-3-2015, với tư cách là cá nhân, bà Q ký với vợ chồng ông X, bà L hợp đồng chuyển nhượng 100.000 m2  đất với giá là 2.200.000.000 đồng. Đến ngày 12-5-2015, bà Q đã vay tiền của Công ty V chuyển trả cho ông X, bà L 2.200.000.000  đồng  và Công ty này cũng chuyển trả cho ông X, bà L 50.200.000 đồng theo Biên bản thỏa thuận chuyển nhượng quyền canh tác đất, đền bù hoa màu và tài sản gắn liền với đất đối với 178.600 m2 đất ký ngày 11-5-2015. Do kế toán Công ty V chuyển giúp tiền, nên đã nhập chung 2 khoản tiền thành 2.250.200.000 đồng để chuyển cho ông X, bà L và họ đã công nhận đã nhận được số tiền này. Ông X cho rằng khoản tiền đã nhận là theo hợp đồng mà vợ chồng ông ký với Công ty V ngày 11-5-2015 đối với 100.000 m2  đất vượt hạn mức là không chính xác, vì:

- Thứ nhất, hợp đồng mà bà Q ký với ông X, bà L ngày 5-3-2015 là hợp đồng có phương thức thanh toán đơn giản bằng cách chuyển khoản hay đưa tiền mặt; bà Q đã chuyển khoản cho ông X, bà L là phù hợp với nội dung của hợp đồng.

- Thứ hai, về hợp đồng mà Công ty V ký với ông X, bà L ngày 11-5-2015 có  quy định về phương thức thanh toán là 2 lần, lần đầu đư  trước 1.000.000.000 đồng và lần sau là khi bên chuyển nhượng đất bàn giao đất cho bên nhận chuyển nhượng thì mới chuyển hết số tiền còn lại. Ông X, bà L không có biên bản bàn giao đất cho bên Công ty đã được Công ty khẳng định và Ủy ban nhân dân huyện K đã trả lời không có biên bản bàn giao đất giữa Công ty và ông X, bà L, cho nên số tiền mà bà Q chuyển cho ông X, bà L ngày 12-5-2015 là tiền của hợp đồng chuyển nhượng ngày 5-3-2015, chứ không phải tiền mà Công ty chuyển trả cho ông X, bà L vì hai người này chưa giao đất cho Công ty.

Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Q, tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng 100.000 m2  đất ngày 5-3-2015 giữa bà Q với ông X, bà L vô hiệu, buộc ông X, bà L trả lại 2.200.000.000 đồng đã nhận theo hợp đồng này cho bà Q.

Bị đơn là ông Ngô Sỹ X (đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị Tuyết L) trình bày:

Ngày 11-5-2015, vợ chồng ông ký với Công ty V 2 hợp đồng, gồm: 1 Hợp đồng chuyển nhượng quyền thuê đất vượt hạn điền và đền bù hoa màu và tài sản gắn liền trên đất đối với 100.000 m2  đất vượt hạn điền với giá 2.200.000.000 đồng, 1 Biên bản thỏa thuận chuyển nhượng quyền canh tác đất, đền bù hoa màu và tài sản gắn liền trên đất đối với 178.600 m2  đất với giá 70.000.000 đồng/ha, thành tiền là 1.250.200.000 đồng.

Để thực hiện 2 hợp đồng trên, ngày 12-5-2015, Công ty V chuyển cho vợ chồng ông qua tài khoản của bà Trần Thị Tuyết L 2.250.200.000 đồng; ngày 25-5-2015, Công ty này chuyển cho vợ chồng ông qua tài khoản của bà Trần Thị Tuyết L 1.200.000.000 đồng .

Ngày 5-3-2015, vợ chồng ông có ký với bà Q 2 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với diện tích 100.000 m2 và 300.000 m2. Thực chất, bà Q nói với vợ chồng ông 2 hợp đồng này để bà Q kêu gọi đầu tư. Nay bà Q yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng 100.000 m2 đất ngày 5-3-2015 và buộc vợ chồng ông trả 2.200.000.000 đồng thì vợ chông ông không chấp nhận, vì vợ chồng ông chưa nhận tiền của cá nhân bà Q chuyển cho hợp đồng này.

Bà Q giả mạo chứng từ là “Ủy nhiệm chi” ngày 12-5-2015 để khởi kiện, việc ghi thêm trong “Ủy nhiệm chi”  là chuyển tiền theo hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 5-3-2015, nên tờ “Ủy nhiệm chi” không có giá trị.

Bà Nguyễn Thị Như Q, là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH Thương mại -Chế biến nông nâm sản-Đ trình bày:Công ty V chuyển cho  ônG X, bà L 2.250.200.000 đồng gồm 2.200.000.000 đồng là tiền Công ty chuyển giúp bà Q theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 100.000 m2 đất mà bà Q ký với ông X, bà L ngày 5-3- 2015 và 50.200.000 đồng, là số tiền Công ty chuyển theo Biên bản thỏa thuận chuyển nhượng quyền canh tác đất, đền bù hoa màu và tài sản gắn liền trên đất đối với 178.600 m2 đất mà Công ty ký với ông X, bà L ngày 11-5-2015. Sau khi Công ty V chuyển 50.200.000 đồng thì ông X, bà L đã giao đất cho Công ty, nên ngày 22-5-2015, Công ty đã chuyển hết 1.200.000.000 đồng còn lại để hoàn thành việc thực hiện Biên bản thỏa thuận chuyển nhượng quyền canh tác đất, đền bù hoa màu và tài sản gắn liền trên đất đối với 178.600 m2  đất ngày 11-5-2015. Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền canh tác đất vượt hạn điền và đền bù hoa màu và tài sản trên 100.000 m2 đất ký ngày 11-5-2015 thì Công ty V chưa trả tiền cho ông X, bà L.

Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Q để bà Q sớm trả lại tiền cho Công ty.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2017/DS-ST ngày 8 tháng 5 năm 2017,Toà án nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai đã quyết định:

Áp dụng Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 121, 122, 124, 127,128, 137,  298, 691, 697 của Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 188 của Luật đất đai; điểm a.4, a.6 tiểu mục 2.3 mục 2 Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10-8-2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn ápdụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình;tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Q.

Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 100.000 m2 đất ký ngày5-3-2015 giữa bà Bùi Thị Q và ông Ngô Sỹ X, bà Trần Thị Tuyết L vô hiệu kể từ thời điểm ký kết là ngày 5-3-2015.

Buộc ông Ngô Sỹ X, bà Trần Thị Tuyết L phải có nghĩa vụ liên đới trả lại cho bà Bùi Thị Q số tiền đã nhận là 2.200.000.000 đồng.Đình chỉ đối với yêu cầu tính lãi đối với 2.200.000.000 đồng của bà Bùi Thị Q.

Buộc ông Ngô Sỹ X, bà Trần Thị Tuyết L phải phải có nghĩa vụ liên đới nộp 200.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch và 76.000.000 đồng án phí dân sự có giá ngạch.

Bà Bùi Thị Q không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho nguyên đơn 200.000 đồng và 8.662.500 đồng tiền tạm ứng án phí không có giá ngạch và có giá ngạch đã nộp.

Ngoài ra , Tòa án cấp sơ thẩm còn quyêt đinh vê nghia vu chiu tiên    lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền; thông báo quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và thời hiệu thi hành án; tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 12-5-2017, bị đơn là ông Ngô Sỹ X và bà Trần Thị Tuyết L có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm với lý do, bà Bùi Thị Q không chuyển tiền cho bị đơn theo hợp đồng đã ký giữa bị đơn với bà Q.

Tại Quyết định kháng nghị số 01/QĐKN/VKS-DS ngày 22 tháng 5 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai đã quyết định kháng nghị bản án dân sự sơ thẩm nêu trên; đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm theo hướng sửa bản án sơ thẩm, bác một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên  đơn về  yêu cầu Tòa án buộc  bị  đơn  phải  trả  cho  nguyên  đơn 2.200.000.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự trình bày:

- Nguyên đơn trình bày: Ông X và bà L chỉ có 400.000 m2, nhưng đã ký hợp đồng chuyển nhượng 500.000 m2 đất là có dấu hiệu của việc lừa đảo. Bà đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm bác kháng cáo của bị đơn và bác kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện K. Trước đây vì muốn nhanh chóng được nhận lại 2.200.000.000 đồng nên tại phiên tòa sơ thẩm, bà đã rút yêu cầu đòi lãi của số tiền này.Nay,bà đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm buộc bị đơn phải trả lãi của 2.200.000.000 đồng theo mức lãi do Ngân hàng nhà nước quy định là 9%/năm tính từ ngày 12-5-2015 đến ngày 12-9-2017.

- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Tại đơn kháng cáo, bị

đơn ghi kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm là không chính xác, vì phần bản án sơ thẩm đã tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 100.000 m2 đất đươc ký kết ngày 5-3-2015 vô hiệu là đúng nên bị đơn đồng ý và không kháng cáo đối với phần bản án này. Bị đơn chỉ kháng cáo với nội dung là yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm không buộc bị đơn trả lại 2.200.000.000 đồng, vì nguyên đơn chưa thanh toán cho bị đơn số tiền này.

- Bà Nguyễn Thị Như Q, là người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Ông X và bà L chưa giao 100.000 m2  đất cho Công ty V, nên Công ty V chưa thanh toán 2.200.000.000 đồng cho ông X, bà L. Đề nghị Tòa án buộc ông X, bà L chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Q.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ an.

- Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị đơn và chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai; đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm bác một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc đòi bị đơn phảI thanh toán2.200.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Khi ghi vào phần trích yếu của bản án, cần xác định tranh chấp mà Toà án thụ lý giải quyết được qui định tại khoản nào tương ứng tại Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự; trong trường hợp tại khoản nào tương ứng của Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự qui định nhóm tranh chấp thì cần ghi cụ thể tranh chấp được giải quyết.

Tại đơn khởi kiện , nguyên đơn yêu câu Toa an tuyên bô hơp đông chuyên nhương quyên sư dung 100.000 m2 đất đươc ky kêt ngay 5-3-2015 giưa nguyên đơn vơi vơ chông ông X, bà L vô hiêu và yêu câu Toa an giai quyêt hâu qua của hơp đông vô hiêu , buôc bi đơn phai tra cho nguyên đơn khoan tiên ma nguyên đơn đa chuyên thanh toan theo hơp đông la 2.200.000.000 đông cùng với tiên lai của 2.200.000.000 đông la 346.500.000 đông. Thế nhưng, Toà án cấp sơ thẩm lại xác định quan hệ pháp luật có tranh chấp và ghi trích yếu tại bản án sơ thẩm là “v/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu và bồi thường thiệt hại”.  Xác định quan hệ pháp luật có tranh chấp và ghi trích yếu tại bản án sơ thẩm là không đầy đủ và không chính xác, mà phải ghi là “v/v yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng dân sự chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu”. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định lại quan hệ có tranh chấp và ghi lại trích yếu của bản án cho đúng quy định của pháp luật.

[2] Các đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị đối với quyết định của bản án sơ thẩm về tuyên bố hơp đông chuyên nhương quyên sư dung 100.000 m2  đất ký kết ngày  5-3-2015 giưa nguyên đơn vơi bị đơn vô hiêu, nên quyết định này của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[3] Điêu 146 của Bộ luật tô tung dân sư năm 2015 và Điều 8, khoản 1Điêu 25 Pháp lệnh 10/2009/UBTVQH12 ngày 27-2-2009 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án quy đinh cá nhân, cơ quan, tổ chức phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm, trừ trường hợp không phải nộp hoặc được miễn nộp tiền tạm ứng án phí.

Trong vụ án này, nguyên đơn không thuôc trương hơp đươc miễn hoăc không phai nôp tiền tạm ứng án phí.

Khoản 4 Điêu 25 Pháp lệnh nêu trên quy đinh, người có nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí trong vụ án dân sự không có giá ngạch phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bằng mức án phí dân sự sơ thẩm; trong vụ án dân sự có giá ngạch phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bằng 50% mức án phí dân sự sơ thẩm mà Tòa án dự tính theo giá trị tài sản có tranh chấp mà đương sự yêu cầu giải quyết.

Khoản 2 Điêu 195 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy đinh Thâm phán dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vao giây bao va giao cho ngươi khơi kiên đê ho nôp tiên tam ưng an phi.  Sô tiên tam ưng an phi trong vu an nay gôm tiên tam ưng an phi không co gia ngach la  200.000 đông va tiên tam ưng an phi có giá ngạch của 2.546.500.000 đông la 41.465.000 đông.

Tuy nhiên , tại Thông báo nộp tiề n tam ưng an phi sô   21 ngày 9-8-2016, Tòa án cấp sơ thẩm thông báo cho người khởi kiện phải “nộp  200.000 đông tiên tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyên sư dung đât vô hiêu va    8.662.500 đông tiên tam ưng an phi dân sư sơ thâm vê yêu câu bôi thương thiêt hai  (tiên lai)” (8.662.500 đông la tiên tam ưng án phí dân sự sơ thẩm của 346.500.000 đông).

Vì Tòa án cấp sơ thẩm không thông báo cho người khởi  kiên phai nôp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm cua 2.200.000.000 đông, nên ngươi khơi kiên không nôp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm cua sô tiên nay.

Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý và giải quyết  , xét xử đối với  yêu cầu của nguyên đơn đòi bị đơn trả lại 2.200.000.000 đông la vi pham nghiêm trong thủ tục tố tụng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

[4] Tư đanh gia va nhân đinh trên đây   , Hôi đông xet xư phuc thâm huy phần bản án sơ thẩm  đã xét xử về hậu quả của hơp đông vô hiêu  (đôi vơi yêu cầu của nguyên đơn đòi bị đơn trả lại 2.200.000.000 đông); đồng thời, hủy phần bản án sơ thẩm đã xét xử về phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch ; chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết lại phần bản án bị hủy.

[5] Do huy một phần ban an sơ thâm như đã nêu trên , nên Hôi đông xet xư phúc thẩm không xem xét nội dung tại đơn kháng cáo và quyết định kháng nghị về giải quyết hậu quả hơp đông vô hiêu của bản án sơ thẩm; ông X và bà L không phai chiu an phi dân sư phuc thâm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 148, khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 29 của Nghị quyết 326/2014/UBTVQH14 ngày 30 -12- 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ;

1. Hủy phần bản án sơ thẩm đã xét xử về hậu quả của hơp đông vô hiêu (đôi vơi yêu cầu của nguyên đơn đòi bị đơn trả lại 2.200.000.000 đông) và hủy phần ban an sơ thẩm đã xét xử về phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch của Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2017/DS-ST ngày 8-5-2017 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai.

Chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai giải quyếtlại vụ án đối với phần bản án bị hủy theo thủ tục sơ thẩm.

2. Về án phí dân sự phúc thẩm:

Ông Ngô Sỹ X và bà Trần Thị Tuyết L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; hoàn trả lại cho ông Ngô Sỹ X và bà Trần Thị Tuyết L 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0005861 ngày 18-5-2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Gia Lai.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4.  Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


140
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về