Bản án 44/2017/HNGĐ-ST ngày 18/09/2017 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 44/2017/HNGĐ-ST NGÀY 18/09/2017 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 18 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 149/2017/TLST- HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2017 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 36/2017/QĐST- HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 28/2017/QĐST- HNGĐ ngày 08/9/2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1994

- Bị đơn: Phạm Duy T2, sinh năm 1992

Đều Hộ khẩu thường trú và địa chỉ: Khu A, thị trấn TH, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. (Chị T1 có mặt, anh T2 vắng mặt tại phiên Tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 06/7/2017 cũng như tại bản tự khai và tại phiên Tòa hôm nay nguyên đơn Chị Nguyễn Thị T1 trình bày: chị và anh Phạm Duy T2 kết hôn với nhau ngày 16/9/2013 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân thị trấn TH, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu T1ẫn nguyên nhân mâu T1ẫn là do anh T2 thường xuyên đi chơi đêm về muộn chị có khuyên bảo anh T2 tu chí làm ăn nhưng anh T2 không nghe còn xúc phạm danh dự chị và có hành vi dùng tay tát vào mặt chị khi chị có thai con Phạm Thị H A không những thế anh T2 có những lời lẽ không đúng mực làm ảnh hưởng đến danh dự và nhân phẩm chị, đến tháng 4/2016 anh T2 tự ý đâp vỡ điện thoại của chị và không có trách nhiêm với chị khi chi đang mang thai, đến ngày 26/9/2016 anh T2 đuổi chị ra khỏi nhà và vợ chồng chị sống ly thân từ 9/2016 đến nay. Chị xác định không còn tình cảm với anh T2 vợ chồng mâu T1ẫn trầm trọng nên chị xin được ly hôn anh Phạm Duy T2. Về con chung: Vợ chồng chị có một con chung là Phạm Thị H A, sinh ngày 26/6/2015 hiện nay cháu còn nhỏ mới hơn 2 tuổi, quan điểm chị xin nuôi con Phạm Thị H A và không yêu cầu anh T2 cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà Lê Thị Đào là mẹ đẻ anh Phạm Duy T2 trình bày: Mâu T1ẫn vợ chồng chị T1 và anh T2 do hai vợ chồng tính tình không hợp, chị T1 thường xuyên cãi lại anh T2 và bà, vợ chồng chị T1 và anh T2 đã sống ly thân từ tháng 9/2016 đến nay. Chị T1 có đơn xin ly hôn anh T2. Quan điểm của anh T2 nói với bà là anh T2 đồng ý ly hôn chị T1. Bị đơn anh Phạm Duy T2 cố tình không đến Tòa án. Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo cung cấp chứng cứ cho anh Phạm Duy T2 yêu cầu anh T2 cung cấp chứng cứ về quan hệ hôn nhân, con chung và tài sản chung cho Tòa án, cũng như gửi các văn bản thể hiện quan điểm của anh về cho Tòa án biết về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung. Anh Phạm Duy T2 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc Tòa án thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên Tòa nhưng anh T2 cố tình không đến Tòa án, không có văn bản thể hiện ý kiến của anh T2 có xác nhận của chính quyền địa phương nơi anh T2 đang sinh sống gửi Tòa án.

Tại phiên Tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đều tuân thủ theo quy định của pháp luật và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà.

Về thủ tục tố tụng: Anh Phạm Duy T2 là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên căn cứ vào khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt anh Phạm Duy T2

Về nội dung vụ án:

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T1 và anh Phạm Duy T2 kết hôn với nhau có đăng ký ngày 16/9/2013 tại Ủy ban nhân dân thị trấn TH, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đây là hôn nhân tự nguyện, hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu T1ẫn do bất đồng quan điểm sống giữa chị Nguyễn Thị T1 và anh Phạm Duy T2 không tôn trọng, quan tâm, giúp đỡ nhau cùng nhau chia sẻ thực hiện công việc trong gia đình. Giữa chị T1 và anh T2 đều bất đồng về suy nghĩ cũng như lối sống, hành động đều trái ngược nhau, do đó hai bên không quan tâm, không có trách nhiệm và nghĩa vụ với nhau. Vợ chồng đã sống ly thân từ 9/2016 đến nay. Anh Phạm Duy T2 không đến Tòa án tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, không có mặt tại phiên Tòa chứng tỏ anh T2 bỏ mặc, không quan tâm đến chị T1 thể hiện không thiện chí trong việc cải thiện tình trạng hôn nhân đang mâu T1ẫn trong khi chị T1 xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh T2, kiên quyết xin ly hôn anh T2. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa chị T1 và anh T2 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T1, xử cho chị T1 được ly hôn anh T2.

[2]. Về quan hệ con chung: Chị T1 và anh T2 có một con chung là Phạm Thị H A, sinh ngày 26/6/2015. Quan điểm của chị xin nuôi con Phạm Thị H A và chị T1 không yêu cầu anh T2 cấp dưỡng nuôi con, xét thấy cháu Phạm Thị H A còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ để đảm bảo về mọi mặt cho cháu Phạm Thị H A cả về thể chất cũng như tinh thần của cháu Phạm Thị H A. Vì vậy, cần xử giao con Phạm Thị H A cho chị Nguyễn Thị T1 trực tiếp nuôi dưỡng. Tam hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Phạm Duy T2 là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3]. Về quan hệ tài sản và nợ chung chị T1 khai: Chị T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh T2 không có văn bản nào gửi Tòa thể hiện quan điểm của mình về phần tài sản và không có lời khai về phần tài sản, không có mặt tại phiên tiếp cận chứng cứ công khai và hòa giải, tại phiên Tòa. Do đó phần tài sản Tòa án không giải quyết. Khi nào các đương sự có yêu cầu chia tài sản phải thực hiện thủ tục khởi kiện theo quy định chung của pháp luật tố tụng dân sự. Tòa án sẽ thụ lý giải quyết bằng một vụ án khác.

[4]. Về án phí: Chị T1 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[5]. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị T1 và anh Phạm Duy T2 có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị T1 được ly hôn anh Phạm Duy T2. Về quan hệ con chung: Xử giao con Phạm Thị H A, sinh ngày 26/5/2015 cho chị Nguyễn Thị T1 trực tiếp nuôi dưỡng. Chị T1 không yêu cầu anh T2 cấp dưỡng nuôi con chung nên không phải giải quyết.

Về quan hệ tài sản và nợ chung: Không phải giải quyết. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T1 phải nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Khoản 3 Điều 228, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho Chị Nguyễn Thị T1 được ly hôn anh Phạm Duy T2

2. Về quan hệ con chung: Chị Nguyễn Thị T1 và anh Phạm Duy T2 có một con chung là Phạm Thị H A, sinh ngày 26/6/2015. Xử giao con Phạm Thị H A, sinh ngày 26/6/2015 cho chị Nguyễn Thị T1 trực tiếp nuôi dưỡng. Chị T1 không yêu cầu anh T2 cấp dưỡng nuôi con chung. Tam hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Phạm Duy T2. Anh T2, chị T1 có quyền thăm nom con chung. Anh T2 và chị T1 có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi có yêu cầu.

3. Về quan hệ tài sản và nợ chung: Tòa án không giải quyết về phần tài sản. Khi nào chị T1 và anh T2 có yêu cầu chia tài sản phải thực hiện thủ tục khởi kiện theo quy đinh chung của pháp luật tố tụng dân sự, Tòa án sẽ thụ lý và giải quyết bằng vụ án khác .

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T1 phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Chị T1 đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0008368 ngày 20 tháng 7 năm 2017 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Chuyển số tiền chị T1 đã nộp tạm ứng 300.000 đồng sang tiền án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị T1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Phạm Duy T2 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc bản án được niêm yết.


30
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 44/2017/HNGĐ-ST ngày 18/09/2017 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:44/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tiền Hải - Thái Bình
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:18/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về