Bản án 44/2019/DS-PT ngày 02/04/2019 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 44/2019/DS-PT NGÀY 02/04/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 02 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 15/2019/TLPT-DS ngày 21 tháng 01 năm 2019; về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản ” Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 204/2018/DS-ST ngày 20 tháng 11 năm 2018, của Toà án nhân dân huyện AP bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 17/2019/QĐPT-DS ngày 12 tháng 02 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Th, sinh 1976. (Có mặt) Cư trú: ấp V, xã VH, huyện AP, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn:

2. 1. Bà Trần Thị Diên H, sinh năm 1970 (Có mặt) 2. 2. Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1966. (Vắng mặt) Cư trú: ấp V, xã VH, huyện AP, tỉnh An Giang.

Bà Trần Thị Diên H đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn H1 theo văn bản ủy quyền lập ngày 29/3/2019.

Người kháng cáo: Bà Trần Thị Diên H là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo hồ sơ án sơ thẩm thể hiện:

Bà Lê Thị Th trình bày: Bà Trần Thị Diên H có mượn tiền của bà nhiều lần với tổng số tiền 50.000.000 đồng, có làm biên nhận nợ ngày 01/8/2017, biên nhận do con bà Dương Thị Mỹ X viết, bà H có ký tên trong biên nhận. Ngoài ra bà H có mượn bà 4.000.000 đồng và bà H nhờ bà chầu hụi dùm 02 lần, mỗi lần 3.000.000 đồng vào năm 2016. Tổng cộng bà H nợ bà 60.000.000 đồng. Bà có đòi bà H nhiều lần nhưng bà H hứa bán đất để trả nợ nhưng bà H chưa bán đất được nên bà và bà H thỏa thuận là bà sẽ mua khoảng 07 công đất của vợ chồng bà H với giá 45.000.000 đồng/01 công. Do bà H đang nợ bà Phan Thị Huỳnh H2 25.000.000 đồng nên bà, bà Hoa và bà H có thỏa thuận khi bà mua đất của bà H xong thì bà sẽ trả 25.000.000 đồng cho bà H2. Số tiền 85.000.000 đồng (bà H nợ bà 60.000.000 đồng, bà H nợ bà H2 25.000.000 đồng) sẽ là tiền đặt cọc khi bà mua đất của bà H.

Việc thỏa thuận này có làm văn bản tại nhà bà H. Sau đó bà H nâng giá 55.000.000 đồng/01 công hoặc vẫn giữ giá 45.000.000đồng/công nhưng mua đất mà không sang tên nên bà không đồng ý mua đất của bà H nữa. Tháng 5/2018 bà làm đơn khởi kiện đến Tòa án AP yêu cầu vợ chồng bà H, ông H1 trả 85.000.000 đồng (có 25.000.000 đồng tiền của bà Hoa). Tại Tòa, bà H, ông H1 thừa nhận nợ bà số tiền 85.000.000 đồng, cùng ký tên vào các biên bản của Tòa án. Sau đó bà và bà Hoa thống nhất với nhau nợ ai nấy kiện nên bà đã rút đơn, Tòa án đã đình chỉ vụ án.

Nay bà yêu cầu bà H, ông H1 cùng trả cho bà 60.000.000 đồng và lãi suất theo quy định tính từ ngày 01/8/2017 đến khi xét xử.

Bà Trần Thị Diên H trình bày: Bà thừa nhận có cùng chồng bà ông Nguyễn Văn H1 có ký tên vào 02 biên bản hòa giải ngày 05/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện AP và các biên bản tại Văn phòng ấp Vĩnh Bảo nhưng do bà Th đã rút đơn tại Tòa án và Tòa án AP đã ra Quyết định đình chỉ số 121 ngày 26/7/2018 nên các chứng cứ này không có giá trị. Bà không thừa nhận chữ ký trong biên nhận ngày 01/8/2017 do bà ký, bà không đồng ý theo yêu cầu của bà Th.

Ngoài ra bà H cho biết vào năm 2017 do bà thiếu nợ Ngân hàng và nợ tiền người khác nên bà kêu bán đất. Bà Th thỏa thuận sẽ mua 07 công đất của bà với giá 45.000.000 đồng/01 công, khi đó bà nói với bà Th sau khi chuyển nhượng xong thì cho bà mướn lại 03 mùa. Việc thỏa thuận mua bán đất kéo dài từ năm 2017 đến năm 2018. Do bà Th không đồng ý cho bà mướn lại 03 mùa nên bà mới nâng giá lên 55.000.000 đồng/01 công, bà Th không đồng ý nên việc mua bán đất không thực hiện.

Bà Dương Thị Mỹ X trình bày: Bà là con của bà Lê Thị Th. Ngày 01/8/2017 bà Trần Thị Diên H có đến nhà bà, bà H và mẹ bà có cãi nhau về việc bà H nợ mẹ bà 50.000.000 đồng. Sau đó bà H kêu mẹ bà làm giấy nhận nợ để bà H ký. Khi đó bà mới viết biên nhận với nội dung bà H có mượn mẹ bà 03 lần với số tiền 50.000.000 đồng, bà H có ký tên vào biên nhận này. Ngày hôm sau bà H đến nhà kêu mẹ bà cho xem lại nội dung giấy nhận nợ, sau khi xem xong bà H đi về.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 204/2018/DS-ST ngày 20/11/2018 của Toà án nhân dân huyện AP đã xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Th.

Buộc bà Trần Thị Diên H và ông Nguyễn Văn H1 có trách nhiệm liên đới trả cho bà Lê Thị Th số tiền 66.934.000 đồng (Sáu mươi sáu triệu chín trăm ba mươi bốn nghìn đồng) Bản án còn tuyên về lãi suất chậm thi hành án, án phí, quyền kháng cáo và thời hạn yêu cầu thi hành án của các đương sự.

Ngày 05/12/2018, bà Trần Thị Diên H có đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện AP.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và qua kết quả tranh lụân tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục kháng cáo: Bà H nộp đơn kháng cáo và tiền tạm ứng án phí phúc thẩm trong hạn luật định, được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về tố tụng: Ông Nguyễn Văn H1 ủy quyền cho bà H tham gia tố tụng hợp lệ, được Hội đồng xét xử chấp nhận căn cứ Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[3] Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án; Tại phiên tòa các đương sự xác định không cung cấp chứng cứ gì mới phát sinh sau phiên tòa sơ thẩm đã xét xử;

[4] Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 27/02/2019 Nguyên đơn, bị đơn yêu cầu giám định chữ ký của bà H tại biên nhận nợ và tờ cam kết; Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để làm thủ tục giám định theo yêu cầu của đương sự; nhưng sau đó nguyên đơn, bị đơn đều thay đổi ý kiến không yêu cầu giám định;

[5] Phần tranh luận:

[5.1] Nguyên đơn bà Th phát biểu: Chính bà H viết tờ cam kết, bản tự khai và ký tên vào biên nhận nợ, nay bà H nói không có nợ và không có ký tên là không đúng.

[5.2] Bị đơn bà H phát biểu: Khẳng định chỉ có ký tên duy nhất vào biên bản hòa giải ở ấp V; Ngoài ra, không có ký tên vào bất cứu giấy tờ nào cả, khẳng định không có nợ bà Th.

[6] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu:

- Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và các đương sự là đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ thì cấp sơ thẩm xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ; Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn rút một phần tiền lãi, nhưng cấp sơ thẩm không tuyên đình một phần nội dung đơn khởi kiện là chưa chính xác nên đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự sửa án sơ thẩm về cách tuyên, còn lại giữ y.

[7] Xét kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Diên H thì thấy, tại đơn khởi kiện ngày 10/8/2018 nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn bà H, ông H1 trả vốn 60.000.000đ, tiền lãi 12.800.000đ tổng cộng là 72.800.000đ, có cung cấp giấy nhận nợ ngày 01/8/2017, có chữ ký tên của bà H nhưng bà H không thừa nhận chữ ký của mình; cấp sơ thẩm xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn ông H1 bà H có trách nhiệm trả cho bà Th số tiền vốn, lãi là số tiền 66.934.000 đồng; do không đồng ý bản án sơ thẩm nên bà H kháng cáo, riêng ông H1 không có kháng cáo;

[8] Căn cứ vào các tài liệu cho thấy biên nhận nợ ngày 01/8/2017 thể hiện bà H có mượn bà Th 03 lần với số tiền 50.000.000đ, nhưng tại đơn khởi kiện và lời khai bà Th cho rằng ngoài 03 lần mượn nêu trên còn đóng hụi dùm bà H 02 lần là 6.000.000đ; nên cộng là 60.000.000đ lời khai của bà Th phù hợp với các chứng khác như: tại tờ cam kết ngày 24/4/2018 bà H thừa nhận còn nợ bà Th 85.000.000đ; tại biên bản hòa giải ở Ban ấp V ngày 24/4/2018 gồm có Ban ấp và đoàn thể ấp Vĩnh Bảo tham gia bà H cũng trình bày “85.000.000đ là phần tiền vay hỏi của bà Th chớ không phải tiền cọc”; rồi sau đó mới thỏa thuận sang nhượng đất nhưng không được, lý do bà H đòi tăng giá đất từ 45.000.000đ/công lên 55.000.000đ/công và bà H cũng xác định 85.000.000đ không phải tiền đặt cọc mà là tiền mượn nợ;

[9] Tại biên bản hòa giải và biên bản hòa giải thành cùng ngày 05/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện AP (BL 16, 17) bà H, ông H1 cũng thống nhất vợ chồng còn nợ bà Th 85.000.000đ; Trong thời gian 7 ngày bà H thay đổi ý kiến; Sau đó bà Th rút đơn khởi kiện, nên Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án và sau đó bà Th khởi kiện lại số tiền 60.000.000đ; Bởi vì bà Th cho rằng số tiền 85.000.000đ trong đó có tiền riêng của bà Phan Thị Huỳnh H2 25.000.000đ nên để bà H2 tự khởi kiện bà H ông H1 bằng vụ án khác; tại bản tự khai ngày 10/6/2018 bà H thừa nhận nợ bà Th 50.000.000đ, lãi suất 30 phân nhưng không chứng minh có đóng lãi và ngay từ đầu bà H không thừa nhận nợ nên cũng không đặt ra lãi suất cao để xem xét.

[10] Bà H thì phủ nhận tất cả kể cả lời khai trước đây, chỉ thừa có ký tên duy nhất vào biên bản hoà giải tranh chấp chuyển nhượng đất với bà Th tại ấp V ngày 24/4/2018 nhưng thực chất nội dung biên bản này là xác định nợ trước đó, rồi hai bên mới có thỏa thuận sang nhượng đất để trừ lại tiền nợ nhưng không đạt được thỏa thuận (BL 20) và bà H cũng xác định 85.000.000đ không phải tiền đặt cọc mà là tiền mượn nợ;

[11] Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự được đối chất với nhau, bà H vẫn không thừa nhận có nợ bà Th số tiền 60.000.000đ; không thừa nhận chữ ký tên trong biên nhận ngày 01/8/2017, nhưng không đồng ý giám định chữ ký xem như bà H từ chối nghĩa vụ chứng minh của mình, để cho rằng không có nợ bà Th. Cấp sơ thẩm xử là có căn cứ, cần giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà H như đề nghị của Viện kiểm sát.

[12] Tuy nhiên, theo đơn khởi kiện ngày 10/8/2018 bà Th yêu cầu trả vốn 60.000.000đ, tiền lãi 12.800.000đ tổng cộng là 72.800.000đ; Tại phiên tòa sơ thẩm bà Th rút một phần yêu cầu tiền lãi và cấp sơ thẩm có nhận định nguyên đơn rút một phần tiền tính lãi, nhưng khi quyết định lại tuyên chấp toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không đúng và không tuyên đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện về tiền lãi suất là chưa chính xác, cần nêu lên để cấp sơ thẩm rút kinh nghiệm chung; Do đó cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm về cách tuyên cho chính xác;

[13] Các phần Quyết định còn lại của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[14] Án phí dân sự phúc thẩm: Do không chấp nhận nội dung kháng cáo, nên bà H phải chịu tiền án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308; khoản 1 điều 148; điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự 2015; Căn cứ Điều 27 Luật hôn nhân gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Diên H.

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 204/2018/DS-ST ngày 20/11/2018 của Toà án nhân dân huyện AP, tỉnh An Giang; về cách tuyên trong quyết định bản án như sau:

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Th về tiền lãi suất đối với số tiền 5.866.000đ.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Th.

Buộc bà Trần Thị Diên H và ông Nguyễn Văn H1 có trách nhiệm liên đới trả cho bà Lê Thị Th số tiền vốn 60.000.000đ và tiền lãi suất 6.934.000đ; tổng cộng tiền vốn và lãi suất là 66.934.000đồng (Sáu mươi sáu triệu chín trăm ba mươi bốn nghìn đồng) Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành đầy đủ khoản tiền nêu trên thì còn phải chịu lãi phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị Diên H và ông Nguyễn Văn H1 phải chịu 3.346.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Lê Thị Th không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại 1.820.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà Th đã nộp biên lại thu số 0009215 ngày 14/8/2018 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện AP.

Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị Diên H phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0010962 ngày 13/12/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện AP.

Những Quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số 204/2018/DS-ST ngày 20/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện AP, tỉnh An Giang, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


45
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 44/2019/DS-PT ngày 02/04/2019 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Số hiệu:44/2019/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân An Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 02/04/2019
Là nguồn của án lệ
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về